|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 TỈNH ĐỒNG THÁP Bản án số: 217/2025/DS-ST |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4-TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Sơn.
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông: Đặng Thế Ứng.
- Ông: Đặng Thị Tiềm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Thúy – Thư ký TAND khu vực 4, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trinh - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 24, 28 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4, tỉnh Đồng Tháp đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 39/2025/TLST-DS ngày 14 tháng 01 năm 2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 181/2025/QĐXXST- DS ngày 03 tháng 10 năm 2025 giữa các đương sự:
-Nguyên đơn: Bà Phạm Thị H, sinh ngày 20/06/1945;
Địa chỉ trước đây: Số D, đường V, khu phố C, phường C, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.
Đại chỉ hiện nay: Số D, đường V, khu phố E, phường M, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn bà Phạm Thị H: Bà Tạ Kim T, sinh năm 1963; địa chỉ trước đây: số E, Đường C, khu phố A, phường D, thị xã C, tỉnh Tiền Giang; địa chỉ hiện nay: số E, Đường C, khu phố A, phường C, tỉnh Đồng Tháp. (có mặt)
-Bị đơn: Ông Trần Công N, sinh năm 1980; (có mặt)
Địa chỉ trước đây: Số I, đường C, khu phố D, phường A, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.
Địa chỉ hiện nay: Số I, đường C, khu phố D, phường M, tỉnh Đồng Tháp.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Phạm Thị Ngọc S, sinh năm 1954; (có mặt)
- Ông Phạm Thanh H1, sinh năm 1966; (có đơn xin vắng mặt)
- Ông Phạm Minh H2, sinh năm 1995; (có đơn xin vắng mặt)
- Ông Phạm Phúc L, sinh năm 1993; (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ trước đây: Khu phố D, phường A, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.
Địa chỉ hiện nay: Khu phố D, phường M, tỉnh Đồng Tháp.
- Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Văn H3, sinh ngày 02/01/1958; (có mặt)
- Ông Nguyễn Thị X, sinh ngày 06/03/1952; (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện ngày 02/01/2025 nguyên đơn bà Phạm Thị H có đại diện theo ủy quyền bà Tạ Kim T trình bày: Bà Phạm Thị H có phần đất tại thửa đất số 799, tờ bản đồ số 48, diện tích 284,5 m2; địa chỉ thửa đất: khu phố D, phường A, thị xã C, tỉnh Tiền Giang (nay là khu phố D, phường M, tỉnh Đồng Tháp), theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DĐ 500770, số vào sổ cấp GCN: CS 12276, cấp ngày 04/5/2022 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp cho bà Phạm Thị H, có nguồn gốc là sang nhượng của hộ gia đình bà Phạm Thị Ngọc S. Phần đất của bà H ở hướng Đông giáp với phần đất của ông Trần Công Nghĩa L1 thửa đất số 60, tờ bản đồ số 48, diện tích 942 m2; khi hộ gia đình bà S sang nhượng đất cho bà H có tiến hành đo đạc và phía ông Trần Công N có ký xác nhận ranh giới, nên bà H mới được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau đó bà H vào phần đất để sử dụng thì phát hiện cây dừa mà ông nghĩa trồng trước đây là trồng trên phần đất của hộ bà S đã sang nhượng cho bà H, nên hai bên không thống nhất được ranh đất mới xảy ra tranh chấp. Theo thẩm định đo đạc thực tế phần đất mà ông N chỉ là ranh đất giữa hai bên thì phía ông N lấn chiếm sang phần đất của bà H có diện tích là 57,6 m2 nằm trong thửa đất số 799, tờ bản đồ số 48, diện tích 284,5 m2 do bà Phạm Thị H đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nay bà H yêu cầu Tòa án xác định phần đất theo thẩm định đo đạc thực tế có diện tích 57,6 m2 nằm trong thửa đất số 799, tờ bản đồ số 48, diện tích 284,5 m2; địa chỉ thửa đất: khu phố D, phường A, thị xã C, tỉnh Tiền Giang (nay khu phố D, phường M, tỉnh Đồng Tháp), theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DĐ 500770, số vào sổ cấp GCN: CS 12276, cấp ngày 04/5/2022 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cho bà Phạm Thị H thuộc quyền quyền sử dụng của bà Phạm Thị H. Buộc ông Trần Công N phải có nghĩa vụ tháo dỡ di dời hàng rào trụ đá, lưới B40 có dừng tole để trả lại cho bà Phạm Thị H phần đất lấn chiếm theo thẩm định đo đạc thực tế có diện tích 57,6 m2 nằm trong thửa đất số 799, tờ bản đồ số 48, diện tích 284,5 m2; địa chỉ thửa đất: khu phố D, phường A, thị xã C, tỉnh Tiền Giang (nay khu phố D, phường M, tỉnh Đồng Tháp), theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DĐ 500770, số vào sổ cấp GCN: CS 12276 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 04/5/2022 cho bà Phạm Thị H. Phía bà H tự nguyện bồi thường cho ông N 06 cây dừa trồng trên phần đất tranh chấp theo giá của Hội đồng định giá với số tiền là 6.520.000 đồng.
* Tại lời khai trong các biên bản hòa giải và tại phiên tòa bị đơn ông Trần Công N trình bày: Ông N được cha, mẹ ruột cho tặng cho phần đất vào năm 2024, tại thửa đất số 60, tờ bản đồ số 48, diện tích 942 m2, địa chỉ thửa đất: khu phố D, phường A, thị xã C, tỉnh Tiền Giang (nay khu phố D, phường M, tỉnh Đồng Tháp), theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp có số vào sổ cấp GCN: CN13403 cấp ngày 21/5/2024, do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thị xã C cấp đứng tên ông Trần Công N. Theo ông N xác định phần đất của ông N ở hướng Tây tiếp giáp với phần đất của hộ bà S thì trước đây hộ bà S có đào con mương và có chừa lại một phần đất thịt tiếp giáp với phần đất của ông N, nhưng do sử dụng lâu dài trước đây là con mương nhỏ nay bị sạt lở nên con mương lớn hơn trước đây. Từ trước tới nay phía gia đình bà S và gia đình ông N cũng không có tranh chấp ranh đất với nhau, khi hộ bà S sang nhượng đất cho bà H thì ông N cũng có ký giáp ranh, nhưng các bên không có tranh chấp ranh đất với nhau; cho đến khi bà H vào sử dụng thì mới xảy ra tranh chấp ranh đất với nhau. Theo ông N không đồng ý tháo dỡ hàng rào trụ đá, lưới B40 có dừng tole để trả lại phần đất theo thẩm định đo đạc thực tế có diện tích 57,6 m2 cho phía bà H, vì ông N không có lấn chiếm đất của phía nguyên đơn bà H; về cây dừa trồng trên phần đất tranh chấp thì ông N trồng trước khi hộ bà S sang nhượng đất lại cho bà H.
* Tại lời khai trong các biên bản hòa giải và tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Ngọc S trình bày: Gia đình bà S có thửa đất số 59, tờ bản đồ số 10, diện tích 3.176,1 m2; địa chỉ thửa đất: khu phố D, phường A, thị xã C, tỉnh Tiền Giang (nay khu phố D, phường M, tỉnh Đồng Tháp), theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp số vào sổ cấp GCN: CH00469, cấp ngày 19/01/2012, do Ủy ban nhân dân huyện C cấp đứng tên hộ bà Phạm Thị Ngọc S. Phần đất của hộ bà S ở hướng Đông giáp với phần đất của ông Trần Công N (trước đây là của ông Trần Công N1 là cha của ông N) là thửa đất số 60, tờ bản đồ số 48, diện tích 942 m2; khi hộ gia đình bà S sang nhượng đất cho bà H có tiến hành đo đạc và phía ông Trần Công N có ký xác nhận ranh giới giữa hai bên, lúc đó bà S không để ý những cây dừa mà phía gia đình ông N trồng trước đó có lấn chiếm sang phần đất mà hộ bà S sang nhượng cho phía bà H, nên phía hộ bà S mới làm thủ tục sang nhượng đất được cho bà H và phía bà H cũng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. đối với diện tích đất tranh chấp trong đó có 01 phần trồng cây dừa và 01 phần là mương trũng và theo bà Phạm Thị Ngọc S cho rằng phần đất của gia đình bà trước đây trồng cây ăn trái, nên có đào mương xung quanh phần đất để dẫn nước từ kênh vào để tưới cây trồng và khi đào mương phần tiếp giáp với thửa đất của ông N có chừa ra khoảng 01m. Về phần đất mà phía ông N lấn chiếm có diện tích 57,6 m2 là nằm trong thửa đất số 799, tờ bản đồ số 48, diện tích 284,5 m2; địa chỉ thửa đất: khu phố D, phường A, thị xã C, tỉnh Tiền Giang (nay khu phố D, phường M, tỉnh Đồng Tháp) là trước đây hộ gia đình bà S chuyển nhượng cho phía bà H. Nay phía bà S đề nghị Tòa án giải quyết buộc phía ông Trần Công N phải có nghĩa vụ trả lại cho bà H phần đất có diện tích 57,6 m2 là nằm trong thửa đất số 799, tờ bản đồ số 48, diện tích 284,5 m2.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Thanh H1, ông Phạm Phúc L và ông Phạm Minh H2 vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai thể hiện trong hồ sơ như sau: Chúng tôi là con và là thành viên hộ bà Phạm Thị Ngọc S. Gia đình chúng tôi có thửa đất số 59, tờ bản đồ số 10, diện tích 3.176,1 m2; địa chỉ thửa đất: khu phố D, phường A, thị xã C, tỉnh Tiền Giang (nay khu phố D, phường M, tỉnh Đồng Tháp), theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp số vào sổ cấp GCN: CH00469, cấp ngày 19/01/2012, do Ủy ban nhân dân huyện C cấp đứng tên hộ bà Phạm Thị Ngọc S. Liền kề thửa đất số 59 của gia đình là thửa đất số 60, tờ bản đồ số 48, diện tích 942 m2, do ông Trần Công N đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 13/4/2022 hộ gia đình chúng tôi có chuyển nhượng cho bà H phần đất có diện tích 284,5 m2. Ngày 04/5/2022 bà H được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với số 799, tờ bản đồ số 48, diện tích 284,5 m2; địa chỉ thửa đất: khu phố D, phường A, thị xã C, tỉnh Tiền Giang (nay là khu phố D, phường M, tỉnh Đồng Tháp). Phía gia đình chúng tôi đã giao thửa đất số 799 cho bà H sử dụng, khi bà H tiến hành cắm ranh đất giữa bà H với ông N thì mới phát hiện đất bà H bị thiếu nên xảy ra tranh chấp. Chúng tôi hoàn toàn thống nhất với ý kiến trình bày của mẹ chúng tôi là bà Phạm Thị Ngọc S.
* Phía người làm chứng ông Nguyễn Văn H3 trình bày: Ông H3 với bà S, bà H và ông N không có quan hệ bà con, chỉ là người ở cùng xóm với nhau, nhà ông H3 cách phần đất mà bà H tranh chấp với ông N khoảng 30m. Phần đất của bà H đang tranh chấp với ông Nghĩa L1 bà H sang nhượng từ hộ bà S, trước đây gia đình bà S có đào con mương xung quanh phần đất để dẫn nước từ kênh vào để tưới cây trồng, thường đào mương giáp ranh đất của người khác ít nhiều cũng phải chừa lại một phần đất thịt, chứ không thể đào sát ranh đất của người khác được, vì còn sạt lở đất; việc phía gia đình ông N trồng cây dừa trên phần đất tranh chấp từ khi nào thì ông H3 không rõ. Theo ông H3 nếu hai bên tranh chấp ranh đất với nhau mà không xác định được ranh đất cụ thể thì căn cứ vào ranh giới đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để xác định ranh giữa hai bên.
* Phía người làm chứng bà Nguyễn Thị X trình bày: Bà X với bà S, bà H và ông N không có quan hệ bà con, chỉ là người ở cùng xóm với nhau, nhà bà X cách phần đất mà bà H tranh chấp với ông N khoảng 50m. Phần đất của bà H đang tranh chấp với ông Nghĩa L1 bà H sang nhượng từ hộ bà S, trước đây gia đình bà S có đào con mương xung quanh phần đất để dẫn nước từ kênh vào để tưới cây trồng, thường đào mương giáp ranh đất của người khác ít nhiều cũng phải chừa lại một phần đất thịt, chứ không thể đào sát ranh đất của người khác được, vì còn sạt lở đất; việc phía gia đình ông N trồng cây dừa trên phần đất tranh chấp từ khi nào thì bà X không rõ.
Về phía đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4, tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến và cho rằng trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa hôm nay; Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ các thủ tục theo pháp luật tố tụng quy định, những người tham gia tố tụng chấp hành tốt về pháp luật nên không có đề nghị gì.
Về ý kiến của phía đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị H. Xác định phần đất theo thẩm định đo đạc thực tế có diện tích 57,6 m2 nằm trong thửa đất số 799, tờ bản đồ số 48, diện tích 284,5 m2; địa chỉ thửa đất: khu phố D, phường A, thị xã C, tỉnh Tiền Giang (nay khu phố D, phường M, tỉnh Đồng Tháp), theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DĐ 500770, số vào sổ cấp GCN: CS 12276, cấp ngày 04/5/2022 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cho bà Phạm Thị H thuộc quyền quyền sử dụng của bà Phạm Thị H. Buộc ông Trần Công N phải có nghĩa vụ tháo dỡ di dời hàng rào trụ đá, lưới B40 có dừng tole để trả lại cho bà Phạm Thị H phần đất lấn chiếm theo thẩm định đo đạc thực tế có diện tích 57,6 m2 cùng cây trồng có trên đất nằm trong thửa đất số 799, tờ bản đồ số 48, diện tích 284,5 m2; địa chỉ thửa đất: khu phố D, phường A, thị xã C, tỉnh Tiền Giang (nay khu phố D, phường M, tỉnh Đồng Tháp), theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DĐ 500770, số vào sổ cấp GCN: CS 12276 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 04/5/2022 cho bà Phạm Thị H và ghi nhận sự tự nguyện của bà Phạm Thị H bồi thường cho ông Trần Công N 06 cây dừa với số tiền là 6.520.000 đồng.
Chứng cứ Tòa án thu thập:
- Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và biên bản định giá tài sản ngày 18/6/2025.
- Bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 18/6/2025 và Phiếu xác nhận kết quả đo đạc chỉnh lý thửa đất ngày 30/6/2025 và của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thị xã C.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở lời trình bày của các đương sự, các tài liệu chứng cứ được đưa ra xem xét tại phiên tòa. Trên cơ sở kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp: Xác định đây là tranh chấp quyền sử dụng đất.
[2] Về yêu cầu của nguyên đơn bà Phạm Thị H có đại diện theo ủy quyền bà Tạ Kim T: yêu cầu Tòa án xác định phần đất theo thẩm định đo đạc thực tế có diện tích 57,6 m2 nằm trong thửa đất số 799, tờ bản đồ số 48, diện tích 284,5 m2; địa chỉ thửa đất: khu phố D, phường A, thị xã C, tỉnh Tiền Giang (nay khu phố D, phường M, tỉnh Đồng Tháp), theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DĐ 500770, số vào sổ cấp GCN: CS 12276, cấp ngày 04/5/2022 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cho bà Phạm Thị H thuộc quyền quyền sử dụng của bà Phạm Thị H. Buộc ông Trần Công N phải có nghĩa vụ tháo dỡ di dời hàng rào trụ đá, lưới B40 có dừng tole để trả lại cho bà Phạm Thị H phần đất lấn chiếm theo thẩm định đo đạc thực tế có diện tích 57,6 m2 nằm trong thửa đất số 799, tờ bản đồ số 48, diện tích 284,5 m2; địa chỉ thửa đất: khu phố D, phường A, thị xã C, tỉnh Tiền Giang (nay khu phố D, phường M, tỉnh Đồng Tháp), theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DĐ 500770, số vào sổ cấp GCN: CS 12276 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 04/5/2022 cho bà Phạm Thị H. Phía bà H tự nguyện bồi thường cho ông N 06 cây dừa trồng trên phần đất tranh chấp theo giá của Hội đồng định giá với số tiền là 6.520.000 đồng. Xét thấy, sau khi tiến hành thẩm định, đo đạc thực tế thì phần đất của bà H tại thửa đất số 799, tờ bản đồ số 48 chưa cộng phần diện tích đất tranh chấp là 57,6 m2 vào thì diện tích là 226,9 m2, còn cộng phần diện tích đất tranh chấp là 57,6 m2 vào thì diện tích là 284,5 m2 thì phần đất của bà H đúng với diện tích được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đối với phần đất của ông N tại thửa đất số 60, tờ bản đồ số 48, chưa cộng phần diện tích đất tranh chấp là 57,6 m2 vào thì diện tích là 942 m2 là đúng với diện tích được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, còn cộng phần diện tích đất tranh chấp là 57,6 m2 vào thì diện tích là 999,6 m2 thì phần đất của ông N tăng so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp là 57,6 m2. Cho thấy, phần đất của bà H cộng phần diện tích đất tranh chấp là 57,6 m2 vào thì diện tích là 284,5 m2 thì phần đất của bà H đúng với diện tích được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; còn phần đất của ông N nếu cộng phần diện tích đất tranh chấp là 57,6 m2 vào thì diện tích là 999,6 m2 thì phần đất của ông N tăng so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp là 57,6 m2. Phần đất của ông N ở hướng Tây là giáp với phần đất của hộ bà S trước khi sang nhượng cho bà H thì hộ bà S có đào con mương dẫn nước và còn chừa lại một phần đất thịt tiếp giáp phần đất của ông N; theo bà S là gia đình bà khi đào con mương dẫn nước dưới tưới cây trồng, khi đào con mương có chừa lại phần đất thịt tiếp giáp phần đất của ông N, trước đây là của ông N1 là cha ông N khoảng 01m; phần diện tích đất tranh chấp mà ông N xác định là ranh đất của ông thì phần đất tranh chấp có diện tích 57,6 m2, trong đó có một phần đất thịt và một phần là con mương trũng, nhưng theo lời khai của bà S cũng như người làm chứng ông H3 và bà X mà phía ông N cung cấp để làm rõ phần diện tích đất mà bà H tranh chấp với ông N, cũng xác định phần đất của ông N tiếp giáp với phần đất của bà S trước đây thì gia đình bà S có đào con mương và ít nhiều chừa lại một phần đất thịt và trong quá trình sử dụng thì có sạt lở một phần nào thôi; còn phía ông N xác định ranh đất của ông mà xảy ra tranh chấp là ông N xác định ranh đất của ông có cả phần mương trũng là không đúng ranh đất giữa hai bên có trước đây. Ngoài ra, theo sơ đồ bản vẽ của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thị xã C lập ngày 30/6/2025 cũng thể hiện phần đất tranh chấp 57,6 m2 là nằm trong thửa đất số 799, tờ bản đồ số 48 của bà Phạm Thị H đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hơn nữa, khi hộ bà S sang nhượng đất cho bà H thì phía ông N cũng có ký xác nhận ranh giới đất giữa hai bên và phần đất tranh chấp theo sơ đồ bản vẽ của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thị xã C lập ngày 30/6/2025 cũng thể hiện phần đất tranh chấp 57,6 m2 là nằm trong thửa đất số 799, tờ bản đồ số 48 của bà Phạm Thị H. Cho nên, cần xác định phần đất tranh chấp có diện tích 57,6 m2 là nằm trong thửa đất số 799, tờ bản đồ số 48 của bà Phạm Thị H.
[3] Đối với cây trồng trên phần đất tranh chấp gồm: có 06 cây dừa phía người đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn bà H tại phiên tòa hôm nay cũng đồng ý bà H bồi thường cho ông Trần Công N 06 cây dừa theo giá của Hội đồng định giá là 6.520.000 đồng; riêng đối với hàng rào trụ đá, lưới B40 có dừng tole nằm trên thửa đất số 799, tờ bản đồ số 48 của bà H, nên yêu cầu phía bị đơn ông Trần Công N phải có nghĩa vụ tháo dỡ di dời ra khỏi thửa đất số 799, tờ bản đồ số 48. Xét thấy, về cây dừa mà phía ông N trồng trên phần đất tranh chấp hiện đang cho trái nếu di dời thì sẽ chết cây và gây lãng phí; phía người đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn bà H tại phiên tòa hôm nay cũng đồng ý phía bà H bồi thường cho ông Trần Công N 06 cây dừa theo giá của Hội đồng định giá là 6.520.000 đồng. Xét đây là sự tự nguyện của phía nguyên đơn phù hợp với quy định pháp luật nên cần ghi nhận; do xác định phần đất tranh chấp là của bà Phạm Thị H nên phía bị đơn ông Trần Công N phải có nghĩa vụ giao trả lại đất cho phía bà H. Do cây trồng trên phần đất tranh chấp bà H tự nguyện bồi thường cho phía ông N, nên cây trồng trên đất giao cho bà H được quyền sở hữu và sử dụng đối với cây trồng trên đất tranh chấp và buộc bà Phạm Thị H phải có nghĩa vụ bồi thường cho ông Trần Công N 06 cây dừa với số tiền là 6.520.000 đồng.
[4] Từ những tài liệu, chứng cứ như phân tích trên Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị H có đại diện theo ủy quyền là bà Tạ Kim T và xác định phần đất theo thẩm định đo đạc thực tế có diện tích 57,6 m2 nằm trong thửa đất số 799, tờ bản đồ số 48, diện tích 284,5 m2; địa chỉ thửa đất: khu phố D, phường A, thị xã C, tỉnh Tiền Giang (nay khu phố D, phường M, tỉnh Đồng Tháp), theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DĐ 500770, số vào sổ cấp GCN: CS 12276, cấp ngày 04/5/2022 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cho bà Phạm Thị H thuộc quyền quyền sử dụng của bà Phạm Thị H. Buộc ông Trần Công N phải có nghĩa vụ tháo dỡ di dời hàng rào trụ đá, lưới B40 có dừng tole để trả lại cho bà Phạm Thị H phần đất lấn chiếm theo thẩm định đo đạc thực tế có diện tích 57,6 m2 cùng cây trồng có trên đất nằm trong thửa đất số 799, tờ bản đồ số 48, diện tích 284,5 m2; địa chỉ thửa đất: khu phố D, phường A, thị xã C, tỉnh Tiền Giang (nay khu phố D, phường M, tỉnh Đồng Tháp), theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DĐ 500770, số vào sổ cấp GCN: CS 12276 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 04/5/2022 cho bà Phạm Thị H và buộc bà Phạm Thị H phải có nghĩa vụ bồi thường cho ông Trần Công N 06 cây dừa với số tiền là 6.520.000 đồng.
[5] Về chi phí tố tụng: Về số tiền chi phí cho việc xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá tài sản; phía người đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn bà H tại phiên tòa hôm nay có ý kiến là phía bà H tự nguyện chịu, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét để giải quyết.
[6] Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của phía nguyên đơn bà Phạm Thị H về việc tranh chấp quyền sử dụng đất, nên phía bị đơn ông Trần Công N phải có nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng; phía bà Phạm Thị H phải có nghĩa vụ chịu án phí đối với số tiền phải bồi thường cho ông Nghĩa L1 6.520.000, nên bà H phải có nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm là 326.000 đồng theo quy định khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Nhưng do bà Phạm Thị H là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn tiền án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; nên bà H không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền là 326.000 đồng.
[7] Xét ý kiến và đề nghị của phía đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4, tỉnh Đồng Tháp là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận đề nghị của phía đại diện Viện kiểm sát.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng các điều 26, 31, 236 Luật đất đai; các điều 105, 158, 159, 160, 163, 164,166 Bộ luật Dân sự; Điều 271, 272 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử
- Về dân sự: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Phạm Thị H có đại diện theo ủy quyền là bà Tạ Kim T.
Xác định phần đất theo thẩm định đo đạc thực tế có diện tích 57,6 m2 nằm trong thửa đất số 799, tờ bản đồ số 48, diện tích 284,5 m2; địa chỉ thửa đất: khu phố D, phường A, thị xã C, tỉnh Tiền Giang (nay khu phố D, phường M, tỉnh Đồng Tháp), theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DĐ 500770, số vào sổ cấp GCN: CS 12276, cấp ngày 04/5/2022 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cho bà Phạm Thị H thuộc quyền quyền sử dụng của bà Phạm Thị H. Buộc ông Trần Công N phải có nghĩa vụ tháo dỡ di dời hàng rào trụ đá, lưới B40 có dừng tole để trả lại cho bà Phạm Thị H phần đất lấn chiếm theo thẩm định đo đạc thực tế có diện tích 57,6 m2 cùng cây trồng có trên đất nằm trong thửa đất số 799, tờ bản đồ số 48, diện tích 284,5 m2; địa chỉ thửa đất: khu phố D, phường A, thị xã C, tỉnh Tiền Giang (nay khu phố D, phường M, tỉnh Đồng Tháp), theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DĐ 500770, số vào sổ cấp GCN: CS 12276 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 04/5/2022 cho bà Phạm Thị H và buộc bà Phạm Thị H phải có nghĩa vụ bồi thường cho ông Trần Công N 06 cây dừa với số tiền là 6.520.000 đồng.
(Có sơ đồ bản vẽ kèm theo)
- Về án phí:
Buộc ông Trần Công N phải có nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.
Buộc bà Phạm Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 326.000 đồng, nhưng do phía bà H là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn tiền án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; nên bà H không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền là 326.000 đồng.
Do nguyên đơn bà Phạm Thị H được miễn nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm, nên không phải xét hoàn lại tiền tạm ứng án phí cho phía bà Phạm Thị H.
- Về quyền kháng cáo:
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Án tuyên vào lúc 8 giờ 30 phút ngày 28 tháng 11 năm 2025 có mặt người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà S; những người tham gia tố tụng còn lại vắng mặt.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND khu vực 4, tỉnh Đồng Tháp;(Đã ký) - Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thanh Sơn |
Bản án số 217/2025/DS-ST ngày 28/11/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 217/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 4 tỉnh Đồng Tháp
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Hoa tranh chấp QSDĐ với ông Nghĩa
