|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 217/2025/DS-ST Ngày: 16 – 6 – 2025 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Len
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Việt Thắng
- Bà Nguyễn Huỳnh Hưỡng
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Nga Muội, là Thư ký Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Trần Hồng Cẩm – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1033/2023/TLST-DS ngày 13 tháng 12 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2025/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 4 năm 2025, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng P1 (V2).
Địa chỉ: Số B, Đường C, Phường C, Quận Đ, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Lê Quốc N, Trưởng phòng tín dụng đầu tư – Chi nhánh Ngân hàng P1 (Văn bản ủy quyền ngày 30/8/2023, có mặt).
- Bị đơn: Ông Phan Văn Q - Sinh năm 1957 (Chủ D, vắng mặt)
Địa chỉ: Khóm A, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Kim T, Sinh năm 1968 (vắng mặt)
- Ông Trần Đại L (xin vắng mặt)
- Bà Lê Xuân K (xin vắng mặt)
- Ông Phan Văn L1, sinh năm 1969 (vắng mặt)
- Ông Phan Văn P (vắng mặt)
- Bà Phan Mỹ V (vắng mặt)
- Ông Phan Văn L2 (Phan Văn H) (vắng mặt)
- Bà Phan Thị M (vắng mặt)
- Ông Trần Văn C, sinh năm 1964 (xin vắng mặt)
- Bà Huỳnh Thị H1, sinh năm 1965 (xin vắng mặt)
Địa chỉ: Khóm A, thị trấn S, huyện T, Cà Mau.
Cùng địa chỉ: Khóm H, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Cùng địa chỉ: Ấp X, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.
Cùng địa chỉ: Ấp C, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, đại diện nguyên đơn trình bày:
Ngày 30/5/1997, Chi nhánh Quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia C1, nay là Chi nhánh Ngân hàng P1 (gọi tắt là VDB) ký hợp đồng tín dụng số: 09/97/HĐTD với ông Phan Văn Q – Chủ doanh nghiệp tư nhân D cho vay số tiền 200.000.000đ để đầu tư tàu đánh bắt hải sản. Thời hạn cho vay 41 tháng, thời hạn trả nợ gốc 38 tháng, kỳ hạn trả nợ lãi hàng tháng, lãi suất trong hạn 0,81%/tháng, lãi suất quá hạn 150% tính trên nợ gốc chậm trả. Tài sản thế chấp là toàn bộ nhà và đất thổ cư tại số C, khu vực 1 (khóm A), thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau, theo hợp đồng thế chấp tài sản ngày 26/6/1997, tài sản thế chấp nhà chính diện tích 102m², nhà phụ diện tích 99m², đất thổ cư diện tích 102m² và tàu đánh cá CM 6730 trọng tải 29,9 tấn. Ngày 22/8/1997 ông Mai Văn T1, bà Trang Thị M1 ký hợp đồng bảo lãnh vay vốn số 04/TD/BL số tiền bảo lãnh 100.000.000 đồng, ông T1 (chủ hộ) ký hợp đồng thế chấp số 20/97 bảo lãnh khoảng vay của ông Q, tài sản thế chấp toàn bộ căn nhà và đất tại số C, ấp C, xã T, thị xã C, tỉnh Cà Mau (Danh mục tài sản thế chấp nhà cấp 4A ngang 6,5m x dài 13,5m, nhà cấp 4C dài 8,5m x dài 8m, đất thổ cư kích thức 42m x 30m = 1.260m² và kích thước 42m x dài 38m = 1.596m²). Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Q đã thanh toán được tổng số tiền 2.970.000đ (trong đó trả gốc 0đ, trả lãi 2.970.000₫). Hiện ông Q còn nợ gốc 200.000.000 đồng, nợ lãi 646.985.239 đồng, tổng 846.985.239 đồng (tạm tính đến ngày 16/6/2025).
Ông Phan Văn Q, bà Nguyễn Kim T đã được Toà án tống đạt các văn bản tố tụng nhưng không có mặt theo giấy triệu tập của Toà án cũng như không có ý kiến hay văn bản đối với yêu cầu của nguyên đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Đại L và bà Lê Xuân K: Phần đất ngang 8,5m x dài 12 diện tích 120m² Ngân hàng xác định của ông Phan Văn Q thế chấp Ngân hàng năm 1997, ông bà xác định nguồn gốc đất là nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Hùng M2 và bà Thái Tuyết X, thời điểm chuyển nhượng ông M2, bà X đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đối với yêu cầu của Ngân hàng yêu cầu duy trì tài sản thế chấp của ông Q ông, bà không đồng ý, do điều kiện đi lại khó khăn, ông bà đề nghị Toà án tiến hành các thủ tục tố tụng vắng mặt ông bà đến khi đến thúc vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ông Trần Văn C, bà Huỳnh Thị H1 cùng trình bày:
Ngày 15/10/1996 ông bà có nhận chuyển nhượng của ông Phan Văn T2 nhà và đất ngang 5m x dài 7m với giá 2,3 lượng vàng 24k, đến ngày 29/11/1998 ông bà tiếp tục chuyển nhượng của ông T2, bà M1 nhà và đất diện tích 117,85m² giá chuyển nhượng 6,5 lượng vàng 24k nhà và đất tại ấp C, xã T, thị xã C (thành phố C), tỉnh Cà Mau. Sau khi chuyển nhượng nhà và đất thì ông bà đã xây dựng lại nhà mới, nhà của ông T2, bà M1 chuyển nhượng không còn, việc tranh chấp giữa Ngân hàng và ông Q không có liên quan gì đến ông bà, do đó ông bà xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự là tương đối đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng dân sự quy định, đối với các đương sự không có mặt theo giấy triệu tập của Toà án là không thực hiện đúng theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng P1, buộc ông Q, bà T thanh toán cho Ngân hàng P1 tổng các khoản là 846.985.239 đồng (trong đó nợ gốc 200.000.000 đồng, nợ lãi 646.985.239 đồng).
Không chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng P1 về việc xử lý tài sản bảo đảm là nhà, đất tại số C, khóm A, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau và tàu cá CM6730 trọng tải 29,9 tấn theo hợp đồng thế chấp tài sản ngày 26/6/1997, được chứng nhận thế chấp số 255/CN-TC ngày 27/6/1997 và nhà ở và đất ở có diện tích 2.856m² đất tại số C, ấp C, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau theo hợp đồng thế chấp tài sản số 20/97 ngày 22/8/1997, được chứng nhận thế chấp số 91/CN-BL ngày 26/8/1997.
Đương sự có nghĩa vụ phải chịu án phí và chi phí tố tụng theo luật định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Theo khoản 1 Điều 185 của Luật Doanh nghiệp quy định: Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Tại khoản 3 Điều 190 của Luật Doanh nghiệp quy định: Chủ doanh nghiệp tư nhân là bị đơn trước Tòa án trong các tranh chấp liên quan đến doanh nghiệp. Theo công văn số: 1996/CV-ĐKKD ngày 26/6/2024 của Sở K1 xác định: Dữ liệu về đăng ký doanh nghiệp trên Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia không có thông tin về Doanh nghiệp tư nhân D. Do đó, cá nhân ông Phan Văn Q tham gia tố tụng với tư cách bị đơn trong vụ án là hoàn toàn phù hợp.
Quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự được xác định là tranh chấp về hợp đồng tín dụng, bị đơn có nơi cư trú tại huyện T nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vắng mặt đương sự: Đương sự ông Phan Văn Q, bà Nguyễn Kim T, ông Phan Văn L1, ông Phan Văn P, bà Phan Mỹ V1, bà Phan Thị M, ông Phan Văn L2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do; ông Trần Đại L, bà Lê Xuân K, ông Trần Văn C, bà Huỳnh Thị H1 xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với đương sự trên là đúng theo quy định.
[2] Về nội dung:
[2.1] Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đã thể hiện việc ông Phan Văn Q (Chủ doanh nghiệp tư nhân D) có xác lập hợp đồng tín dụng số: 09/HĐTD ngày 30/5/1997 để vay số tiền 200.000.000 đồng; có thế chấp tài sản đảm bảo vay vốn, đến nay chỉ thanh toán một phần tiền vốn và lãi, hiện ông Q còn nợ VDB số tiền nợ gốc 200.000.000 đồng, nợ lãi 646.985.239 đồng (tạm tính đến ngày 16/6/2025) đúng như yêu cầu của nguyên đơn đặt ra. Thời điểm vay vốn ông Q và bà Nguyễn Kim T là vợ chồng cùng đứng tên thế chấp tài sản để ông Q đứng tên vay vốn. Vì vậy, buộc ông Q, bà T có nghĩa vụ thanh toán toàn bộ khoản nợ gốc và lãi nêu trên cho VDB là hoàn toàn có căn cứ.
[2.2] Tại phiên tòa, nguyên đơn đặt ra yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp tài sản ngày 26/6/1997, tài sản thế chấp nhà chính diện tích 102m², nhà phụ diện tích 99m², đất thổ cư diện tích 102m² và tàu đánh cá CM 6730 trọng tải 29,9 tấn và tài sản thế chấp ông Mai Văn T1 (chủ hộ) ký hợp đồng thế chấp số 20/97 bảo lãnh khoảng vay của ông Q, tài sản thế chấp toàn bộ căn nhà và đất tại số C, ấp C, xã T, thị xã C, tỉnh Cà Mau (Danh mục tài sản thế chấp nhà cấp 4A ngang 6,5m x dài 13,5m, nhà cấp 4C dài 8,5m x dài 8m, đất thổ cư kích thức 42m x 30m = 1.260m² và kích thước 42m x dài 38m = 1.596m²).
Xét hợp đồng thế chấp ông Q, bà T với Ngân hàng, ông Q, bà T có ký hợp đồng bảo đảm bằng tài sản thế chấp là nhà chính diện tích 102m², nhà phụ diện tích 99m², đất thổ cư diện tích 102m² đất tại khóm A, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau và tàu đánh cá CM 6730 trọng tải 29,9 tấn. Thấy rằng, tài sản tại thời điểm thế chấp chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở chỉ có xác nhận tạm thời quyền sở hữu nhà – quyền sử dụng đất ở, hiên tại phần đất thế chấp đã chuyển nhượng qua nhiều người và ông Nguyễn Hùng M2, bà Nguyễn Thị T3 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 22/3/2011 và ông M2, bà T3 đã chuyển nhượng cho vợ chồng ông Trần Đại L, bà Lê Xuân K và đã chỉnh lý sang tên người sử dụng đất qua cho ông L, bà K ngày 17/5/2022, ông L, bà K đã xây dựng nhà mới. Đối với bà cá ông Q, bà T thế chấp, tàu cá số CM 6730 trọng tải 29,9 tấn hiện tại không xác định ở đâu, ai trực tiếp quản lý, sử dụng.
Xét hợp đồng thế chấp của ông Phan Văn T2, bà Trang Thị M1 với Ngân hàng, thấy rằng ông T2, bà M1 có ký hợp đồng bảo đảm bằng tài sản thế chấp toàn bộ căn nhà và đất tại số C, ấp C, xã T, thị xã C, tỉnh Cà Mau (Danh mục tài sản thế chấp nhà cấp 4A ngang 6,5m x dài 13,5m, nhà cấp 4C dài 8,5m x dài 8m, đất thổ cư kích thức 42m x 30m = 1.260m² và kích thước 42m x dài 38m = 1.596m²). Thấy rằng tại thời điểm thế chấp ông T2, bà M1 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở chỉ có xác nhận tạm thời quyền sở hữu nhà – quyền sử dụng đất ở, hiện tại căn nhà thế chấp ông T2, bà M1 đã chuyển nhượng lại cho ông Trần Văn C, bà Huỳnh Thị H1 năm 1996 và 1998, căn nhà của ông T2, bà M1 không còn, sau khi chuyển nhượng ông C, bà H1 đã xây mới lại. Đối với phần đất ở theo danh mục tài sản thế chấp đất thổ cư kích thức 42m x 30m = 1.260m² và kích thước 42m x dài 38m = 1.596m² đất tại ấp C, xã T, thị xã C thực tế ông T2, bà M1 không có đất.
[3] Theo khoản 2 Điều 133 của Bộ luật Dân sự quy định về bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu, có quy định: Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác cho người thứ ba ngay tình và người này căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không bị vô hiệu, việc ông L, bà K chuyển nhượng đất là hợp pháp, ngay tình. Như vậy, cần giữ nguyên hiện trạng sử dụng đất cho ông L, bà K là phù hợp, đúng quy định. Đối với các căn nhà ông Q, bà T, ông T2, bà M1 và tàu cá ông Q, bà T thế chấp hiện tại không còn, do đó Ngân hàng yêu cầu tiếp tục duy trì tài sản thế chấp là không có căn cứ.
Xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.
[4] Đối với chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ tổng số tiền 1.000.000 đồng, buộc ông Q phải chịu. Chi phí này nguyên đơn đã nộp và thanh toán xong nên buộc bị đơn phải hoàn lại cho nguyên đơn.
[5] Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nguyên đơn không phải chịu án phí được nhận lại. Bị đơn ông Q được miễn án phí do người cao tuổi, bà T phải chịu án phí theo quy định 18.704.000 đồng (làm tròn, chưa nộp).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 133 của Bộ luật dân sự, khoản 1 Điều 188, khoản 3 Điều 190 của Luật doanh nghiệp; Điều 12 Luật Ngân hàng; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 của ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng P1: Buộc Phan Văn Q, bà Nguyễn Kim T thanh toán cho Ngân hàng P1 tổng các khoản là 846.985.239 đồng (trong đó nợ gốc 200.000.000 đồng, nợ lãi 646.985.239 đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.
- Không chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng P1 về việc xử lý tài sản bảo đảm là nhà, đất tại số C, khóm A, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau và tàu cá CM6730 trọng tải 29,9 tấn theo hợp đồng thế chấp tài sản ngày 26/6/1997, được chứng nhận thế chấp số 255/CN-TC ngày 27/6/1997 và nhà ở và đất ở có diện tích 2.856m² đất tại số C, ấp C, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau theo hợp đồng thế chấp tài sản số 20/97 ngày 22/8/1997, được chứng nhận thế chấp số 91/CN-BL ngày 26/8/1997.
- Buộc ông Phan Văn Q phải hoàn trả cho Ngân hàng P1 chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ với số tiền 1.000.000 đồng.
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
- Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Ông Phan Văn Q được miễn theo quy định, bà Nguyễn Kim T phải chịu 18.704.000 đồng (chưa nộp). Ngân hàng P1 không phải chịu án phí, ngày 23/11/2023, Ngân hàng đã nộp tạm ứng án phí 18.069.000 đồng theo biên lai số 0004148 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, được hoàn lại khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Quyề kháng cáo, kháng nghị: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị bản án theo luật định.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Văn Len |
Bản án số 217/2025/DS-ST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 217/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng Phát triển Việt Nam yêu cầu ông Phan văn Quân trả tiền vay tín dụng
