TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 217/2024/HS-ST
Ngày: 28-8-2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Dựa
Các Hội thẩm nhân dân.
1. Ông Võ Hoàng Thu
2. Ông Phạm Văn Tuyền
- Thư ký phiên tòa: Ông Quách Minh Tuyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 212/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 228/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Anh T; Giới tính: N; Sinh năm: 1990 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 103A ấp F, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. Chỗ ở: Như trên. Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 06/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Anh T1 và bà Ngô Thị P; Bị cáo có vợ, có 02 con; Tiền án: Không.
Tiền sự:
Ngày 14/12/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn ra Quyết định số 378/2018/QĐ-TA áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng. Chấp hành xong ngày 25/9/2020. (BL 153-155)
Ngày 02/6/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn ra Quyết định số 285/2021/QĐ-TA áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 18 tháng. Chấp hành xong ngày 08/9/2022. (BL 131-133)
Nhân thân:
Ngày 06/5/2011, bị Ủy ban nhân dân huyện H ra Quyết định số 902/QĐ-UBND về việc đưa người vào cơ sở chữa bệnh 24 tháng. Chấp hành xong ngày 13/8/2013.
Ngày 30/9/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 155/2015/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày ngày 30/7/2016. Đã đóng án phí 200.000 đồng vào ngày 26/02/2016.
- Ngày 24/11/2017, bị Ủy ban nhân dân xã X, huyện H ra Quyết định số 660/QĐ-UBND về việc đưa người nghiện ma túy vào Cơ sở cai nghiện ma túy N để quản lý cắt cơn, giải độc, phục hồi sức khỏe và tư vấn tâm lý trong thời gian làm thủ tục áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Ngày 01/3/2018, Ủy ban nhân dân xã X ra Quyết định số 43/QĐ-UBND về việc hủy Quyết định đưa người nghiện ma túy vào Cơ sở cai nghiện ma túy N1 để quản lý cắt cơn, giải độc, phục hồi sức khỏe và tư vấn tâm lý trong thời gian làm thủ tục áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. (BL 130).
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/10/2023 (có mặt)
Bị hại: Bà Phan Thị Thanh T2, sinh năm: 1993;
Địa chỉ: F ấp F, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Ngô Thị P, sinh năm: 1968;
Địa chỉ: A, ấp F, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
Người làm chứng: Ông Hoắc Bá H, sinh năm 1991
Địa chỉ: A, tổ A, ấp A, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào sáng ngày 31/10/2023, Trần Anh T nảy sinh ý định đi chiếm đoạt tài sản của người khác bán lấy tiền mua ma túy để sử dụng nên T tháo biển số 50Y1-926.62 trên xe mô tô Wave của mẹ ruột là bà Ngô Thị P rồi cất giữ biển số trong cốp xe, sau đó, gắn biển số giả 59GA-042.74 lên xe và điều khiển xe mô tô đi qua nhiều tuyến đường để tìm tài sản sơ hở của người khác. Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, T điều khiển xe mô tô trên đường Q, đến đoạn đường thuộc Ấp E, xã V, huyện B thì phát hiện chị Phan Thị Thanh T2 đang điều khiển xe mô tô Honda Vision biển số 59G3-094.03 lưu thông ở chiều đường ngược lại, trên cổ chị T2 có đeo 01 sợi dây chuyền vàng nên T quyết định cướp giật sợi dây chuyền của chị T2. Lúc này, T điều khiển xe mô tô quay đầu lại chạy phía sau chị T2, khi chị T2 đến trước địa chỉ B Q, Ấp E, xã V, huyện B thì T tăng ga chạy áp sát bên phải xe của chị T2, dùng tay trái nhanh chóng giật lấy sợi dây chuyền trên cổ của chị T2 làm sợi dây chuyển bị đứt, rớt xuống đùi chị T2. Lúc này, chị T2 liền bẻ tay lái về bên phải va chạm vào xe mô tô của T làm T cùng xe mô tô của T ngã vào lề đường, xe mô tô của chị T2 đè lên xe và người của T. Chị T2 tri hô “Cướp! Cướp!” thì được anh Hoắc Bá H ở gần đó chạy ra hỗ trợ chị T2 giữ T lại, giao cho Công an xã V lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang, chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B điều tra, xử lý.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, Trần Anh T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai của bị hại, người liên quan và các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án (Bút lục 138-141, 183-188).
Kết luận định giá tài sản số 1109/KL-HĐĐGTS ngày 25/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B xác định: 01 sợi dây chuyền vàng có gắn mặt dây chuyền hình con cá, vàng 18K, trọng lượng 1 chỉ 5 phân 6 ly trị giá 5.304.000 đồng. (BL 29-31).
* Vật chứng thu giữ:
- + 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng có gắn mặt dây chuyền hình con cá (do chị T2 giao nộp);
- + 01 xe mô tô Wave Alpha màu đỏ bạc đen gắn biển số 59GA-042.74 có số khung RLHJA3926NY129943, số máy JA39E2626467, qua xác minh xác định xe này do bà Ngô Thị P đứng tên chủ sở hữu. Biển kiểm soát được cấp là 50Y1-926.62. Vào ngày 31/10/2023, Trần Anh T tự ý lấy xe mô tô của mẹ ruột là bà Phước đi cướp giật, bà Phước không biết. (BL 50-51, 143);
- + Đối với biển số 59GA-042.74, qua giám định xác định là biển số giả. (BL 28);
- + 01 biển số xe 50Y1-926.62, qua giám định xác định là biển số thật. (BL 28);
- + 01 áo thun ngắn tay màu đen; 01 quần jean lửng màu xanh; 01 áo khoác màu cam (thu giữ của T).
- + 01 USB chứa hình ảnh camera, chuyển kèm hồ sơ vụ án.
Trong số các vật chứng nêu trên, Cơ quan điều tra đã trả 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng cho chị Phan Thị Thanh T2, trả xe mô tô Wave Alpha cùng biển số 50Y1-926.62 cho bà Ngô Thị P. Đối với các vật chứng còn lại, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh tạm giữ, chờ xử lý. (BL 144-145, 156).
Cáo trạng số: 203/CT-VKS ngày 25/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh truy tố bị cáo Trần Anh T về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa:
Bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh đã truy tố. Bị cáo thành khẩn khai báo và có thái độ ăn năn hối cải. Bị cáo không tranh luận và lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội “Cướp giật tài sản”, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 2 khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt Trần Anh T từ 04 (bốn) đến 05 (năm) năm tù và đề nghị xử lý vật chứng theo quy định.
Về dân sự: Bị hại Phan Thị Thanh T2 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, đương sự không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ thu thập được và kết quả tranh luận tại phiên tòa, có đủ căn cứ kết luận hành vi phạm tội cụ thể của bị cáo như sau:
Vào sáng ngày 31/10/2023, bị cáo Trần Anh T đã công khai chiếm 01 sợi dây chuyền vàng 18K, trọng lượng 1 chỉ 5 phân 6 ly trị giá 5.304.000 đồng của chị Phan Thị Thanh T2 tại trước địa chỉ B Q, Ấp E, xã V, huyện B rồi nhanh chóng tẩu thoát thì bị bắt quả tang. Như vậy có đủ căn cứ để kết luận bị cáo đã phạm tội “Cướp giật tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[3] Hành vi của bị cáo đã xâm phạm tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ; bị cáo thực hiện hành vi phạm tội một cách táo bạo, ngang nhiên nơi đường phố đông người qua lại; gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương; làm ảnh hưởng đến sinh hoạt bình thường của người dân. Bị cáo dùng xe mô tô để chiếm đoạt tài sản trong khi bị hại cũng đang điều khiển xe mô tô trên đường nên thuộc trường hợp phạm tội “Dùng thủ đoạn nguy hiểm” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xét bị cáo không có công việc ổn định nên không phạt bổ sung đối với bị cáo.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tài sản đã được thu hồi và trả lại cho bị hại nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo có nhân thân xấu và có tiền sự về việc bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng chưa được xóa.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì khác nên không xem xét.
[6] Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã lập biên bản giao trả lại cho bị hại 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng có gắn mặt dây chuyền hình con cá nên không xem xét.
Đối với 01 xe mô tô Wave Alpha màu đỏ bạc đen gắn biển số 59GA-042.74 có số khung RLHJA3926NY129943, số máy JA39E2626467, qua xác minh xác định xe này do bà Ngô Thị P đứng tên chủ sở hữu. Biển kiểm soát được cấp là 50Y1-926.62. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã lập biên bản giao trả lại cho bà Ngô Thị P nên không xem xét.
[7] Xử lý vật chứng: Đối với biển số 59GA-042.74, qua giám định xác định là biển số giả; 01 áo thun ngắn tay màu đen; 01 quần jean lửng màu xanh; 01 áo khoác màu cam. Những vật chứng này không có giá trị hoặc bị thu giữ lâu không sử dụng được nên tịch thu tiêu hủy; Bảo lưu hồ sơ vụ án 01 USB chứa hình ảnh camera.
[8] Về án phí sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- * Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt Bị cáo Trần Anh T 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 31/10/2023.
- * Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- - Tịch thu tiêu hủy: Biển số 59GA-042.74, qua giám định xác định là biển số giả; 01 áo thun ngắn tay màu đen; 01 quần jean lửng màu xanh; 01 áo khoác màu cam.
- - Bảo lưu hồ sơ vụ án 01 USB chứa hình ảnh camera.
(Các vật chứng trên Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/6/2024 giữa công an huyện B và Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh).
- * Căn cứ các Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Văn Dựa |
Bản án số 217/2024/HS-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm về tội cướp giật tài sản
- Số bản án: 217/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tội cướp giất tài sản
