Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 217/2024/DS-PT

Ngày: 05 - 12 - 2024

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Thái

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Thành

Ông Nguyễn Lê Phương

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đức Khang là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa:

Ông Đinh Văn Lai – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 29 tháng 10, 05 tháng 11 và 05 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 50/2023/TLPT-DS ngày 27 tháng 3 năm 2023, về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, do Bản án dân sự sơ thẩm số 06/2023/DS-ST ngày 16 tháng 01 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đ bị kháng cáo, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 206/2024/QĐ-PT ngày 08 tháng 10 năm 2024, Thông báo số 131/TB-TA ngày 17 tháng 10 năm 2024 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 70/2024/QĐPT-DS ngày 05 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Đinh Thị Hương V, sinh năm 1967; Địa chỉ cư trú: Tổ 3, thôn 1A, xã Tr1, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

- Bị đơn:

  1. Bà Trần Thị H, sinh năm 1964
  2. Ông Nguyễn Quang T, sinh năm 1964 (đã chết ngày 17/12/2020)

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Quang T:

  • + Ông Nguyễn Kim T1, sinh năm 1920
  • + Bà Trần Thị H, sinh năm 1964
  • + Bà Nguyễn Kim Q, sinh năm 1984
  • + Ông Nguyễn Minh Ph, sinh năm 1985
  • + Bà Nguyễn Hải L1, sinh năm 1999

Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Kim T1, bà Trần Thị H, bà Nguyễn Kim Q và bà Nguyễn Hải L1: Ông Nguyễn Minh Ph, sinh năm 1985

Cùng địa chỉ: Số 85, đường ĐT 766, thôn 1A, xã Tr1, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận (Văn bản ủy quyền ngày 15/11/2022 và ngày 13/7/2023).

- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Đinh Thị Hương V.

Tại phiên toà, có mặt bà Đinh Thị Hương V, ông Nguyễn Minh Ph; còn lại vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 26/7/2018 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Đinh Thị Hương V trình bày:

Năm 1985, bà có nhận chuyển nhượng diện tích đất khoảng 2.000m², chiều ngang 25m, chiều dài 80m của ông Ngô Văn T2, thời gian đó đất vẫn chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên hai bên chỉ đo đạc bằng tay. Hai bên chỉ viết giấy tay nhưng giấy này đã bị thất lạc. Do giữa bà và ông T xảy ra tranh chấp, nên ngày 13/5/2018, ông Ngô Văn T2 đã viết lại cho bà 01 giấy sang nhượng với nội dung đã được thể hiện tại giấy sang nhượng giữa hai bên làm năm 1985. Giữa bà và ông T2 không có quan hệ họ hàng, bà con, thân thích gì cả. Lúc nhận chuyển nhượng đất, ông T2 có dẫn bà ra thửa đất để xác định ranh mốc, thể hiện là các cây vông, cây dừa, cây sung trồng giáp ranh với các hộ lân cận.

Năm 1992, bà đã xây dựng 01 nhà ở trên đất, diện tích 50m² và trồng tiêu xung quanh thửa đất, đồng thời có xây dựng hàng rào kẽm gai, cây vông để xác định ranh mốc với các hộ lân cận.

Đến năm 1995, bà đã bán cho ông Nguyễn Quang T diện tích đất chiều ngang 02m, chiều dài hết thửa đất (ước lượng chiều dài thửa đất là 80m). Lúc bán, giữa hai bên có lập giấy viết tay, giấy này ông T giữ.

Thời điểm này, diện tích thực tế bà sử dụng là 21,5m ngang, chiều dài 80m. Phía trước đất là đường ĐT 713, bên trái giáp đất ông Hà Văn V2, ranh mốc giữa hai hộ là tường gạch tô của nhà ông V2; bên phải giáp đất của bà B2 ranh mốc giữa hai nhà là tường gạch của bà B2. Phía sau lô đất là giáp với nhà ông T, ranh mốc giữa hai hộ là ao.

Năm 1995, chồng bà là ông Nguyễn Đức Ng chết.

Đến năm 1996, diện tích nêu trên được Nhà Nước cấp quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C 886381 do Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Bình Thuận cấp ngày 24/12/1996 mang tên Đinh Thị Hương V, thửa đất số 575, tờ bản đồ 08, diện tích 1.200m² tọa lạc tại thôn 1A, xã Tr1, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Khi được cấp sổ, bà không để ý diện tích đất là bao nhiêu, chiều ngang, chiều dài thửa đất như thế nào, chỉ sử dụng đúng diện tích theo ranh mốc do ông T2 chỉ khi bà mua đất.

Đến năm 1997, bà chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn M diện tích 275m² đất (chiều ngang trước 6m, chiều ngang phía sau 5m, chiều dài 50m), diện tích trên sổ còn sử dụng là 925m²).

Đến năm 1999, bà tiếp tục chuyển nhượng cho ông Phạm Văn B3 diện tích 300m² đất (chiều ngang 5m, chiều dài 60m).

Hiện tại, diện tích thực tế bà sử dụng ít hơn so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nay, bà xác định là bị đơn lấn chiếm phần đất cuối lô đất của bà như trong bản đồ ngày 13/12/2022, có diện tích lấn chiếm là 105,3m². Bà yêu cầu bị đơn phải trả lại phần đất đã lấn chiếm và tháo dỡ nhà yến đã xây dựng trên đất.

Quá trình giải quyết vụ án, phía bị đơn trình bày:

Tháng 11/1994, ông T mua lại nguyên lô đất của ông Nguyễn Văn T4, cư trú tại thôn 1A, lô đất có chiều ngang là 27m, chiều dài khoảng trên 80m. Diện tích khoảng trên 2.500m², Đông giáp đất ông T5(cha của ông T4), Tây giáp đất ông N4 (em của ông T4), Nam giáp đất ông N5, Bắc giáp đường 713 (nay là đường ĐT 766).

Tháng 4/1995, ông T mua của ông Nguyễn Đức Ng phần đất thấp phía sau (liền kề bên trái của lô đất nhà ông T).

Tháng 5/1995 (sau ngày ông N4 qua đời), bà Đinh Thị Hương V (vợ ông N4) vào xem xét thửa đất và hỏi ông T về việc ông N4 bán phần đất cuối lô cho ông T. Ông T cho xem giấy tay mà ông T và ông N4 ký kết bán, thì bà V nói rằng: “Anh N4 bán phần đất thấp cho anh thì em đồng ý, nhưng nếu thế thì phần còn lại lên đường hơi ngắn, anh dời xuống cho em ít mét nữa”, ông T đồng ý và hai bên đã thống nhất dời ranh mốc xuống phía sau 8m.

Ngày 04/9/1995, bà V bán cho ông T 2m ngang, dài 50m, diện tích là 100m² (phần đuôi giáp đất của ông T). Như vậy, lúc này chiều ngang đất của ông T có trên đầu là 29m, ngang đuôi của cả hai lô chưa xác định cụ thể.

Tháng 3/1996, ông T thuê máy móc để đào ao vượt thổ, phần cao làm vườn, phần thấp làm ao nuôi cá và sử dụng ổn định từ đó đến nay.

Tháng 6/1997, ông T nhận sổ đỏ (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất), ông T không quen kiểm tra kích thước, song biết được là thửa đất ông T mua của ông Nguyễn Văn T4 là thửa số 576, tờ bản đồ số 08, có tổng diện tích là 2.500m². Ngay sau đó, ông T thế chấp sổ đỏ để vay vốn Ngân hàng, rất ít khi có sổ đỏ ở nhà, nên việc sử dụng đất theo ranh mốc chỉ là tương đối về chiều ngang (chưa cụ thể).

Năm 1997, bà V bán cho ông Nguyễn Minh có chiều ngang 6m đầu và 5m đuôi, dài 50m; Phần đuôi giáp đất ông T mua của ông N4.

Năm 2001, bà V tiếp tục bán cho ông Phạm Văn B3 5m ngang, dài cũng giáp đất ông T mua của ông N4 (nay là đất của ông Hà Văn V2 đã mua lại).

Suốt từ đó trở đi, đất được sử dụng ổn định, các bên vui vẻ, hòa thuận không có tranh chấp.

Đầu tháng 02/2018, ông T xây dựng nhà Yến ở cuối lô mà ông T đã sử dụng ổn định suốt 23 năm qua, trước khi xây dựng, ông T đã mời bà V (chủ đất cũ) vào để cùng ông T xác định ranh mốc, đã được bà V thống nhất, rồi mới tiến hành xây nhà Yến.

Bà V cho rằng gia đình bị đơn đã lấn chiếm diện tích 105,3m² là không có căn cứ, bởi các lẽ sau:

  • - Bà V không có căn cứ nào để chứng minh rằng gia đình bị đơn đã lấn chiếm đất của bà.
  • - Đất của bà V thiếu so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là do trước đây đo bằng phương thức thủ công nên việc thiếu hay thừa so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là bình thường, việc bà V thiếu đất không đồng nghĩa với gia đình bị đơn đã lấn chiếm đất. Vì đất của gia đình bị đơn được Nhà nước cấp (hiện nay đang ở), khi gia đình đo lại vẫn thiếu so với diện tích đất được cấp trong sổ, không lẽ gia đình bị đơn lại đi kiện hàng xóm xung quanh để đòi phần còn thiếu hoặc lại đi kiện Nhà nước để đòi phần đất đã cấp thiếu.
  • - Khi gia đình bị đơn xây nhà Yến cũng như hàng rào đều có gọi bà V đến để xác nhận ranh giới, được chứng minh như sau:
  • + Gia đình bị đơn và bà V không có mâu thuẫn, ngoài ra bà V lại là mẹ đỡ đầu của vợ ông Nguyễn Minh Ph.
  • + Vốn để bỏ ra xây nhà Yến khoảng gần 2 tỷ, gia đình bị đơn không lẽ lại bỏ số tiền lớn để xây dựng trên đất của bà V, nếu sau này xảy ra tranh chấp thì phải tháo dỡ rất tốn tiền, trong khi đó đất dùng để xây nhà Yến còn rất rộng. Vì vậy, gia đình bị đơn không hề xây trên đất của bà V.
  • + Để xây được nhà Yến thì gia đình bị đơn phải đi nhờ dọc theo thửa đất của bà V (từ đường ĐT 776 vào), do đó khi xây dựng thì gia đình bị đơn có hỏi đi nhờ qua lô đất để cho xe tải, xe ben vận chuyển vật liệu xây dựng và đổ nhờ đất, đá và vật liệu trên lô đất của bà V. Cả hai bên đều thỏa thuận (bằng miệng) là sau khi đi nhờ và đổ nhờ vật liệu xây dựng thì phần đất phía sau (giáp đất xây nhà Yến) gia đình bị đơn phải đổ cho mấy xe đất lên cho cao đất của bà V, vì đất phía sau (giáp nhà Yến) rất thấp.
  • + Từ nhà bà V đang ở hiện tại đến lô đất của bà (hiện nay đang tranh chấp) rất gần, bà V là người buôn bán ở chợ nên ngày nào bà V cũng chạy qua lô đất của bà V, nên bà V biết rất rõ là gia đình bị đơn xây dựng như thế nào, nếu xây mà lấn đất của bà V thì đã tranh chấp ngay từ ngày gia đình bị đơn đổ móng là ngày 20/02/2018.
  • + Việc bà V kiện tranh chấp đất với gia đình bị đơn, theo bị đơn là do bà V thấy việc gia đình bị đơn có bồi thường cho ông V2 100.000.000 đồng nên bà V nghĩ bà kiện để gia đình bị đơn bồi thường cũng như vậy, nhưng việc gia đình bị đơn bồi thường cho ông V2 không phải là lấn đất, mà do gia đình bị đơn xây nhà Yến, sợ sau này xây xong gia đình bị đơn nuôi Yến thì ông V2 sẽ phá phách bằng cách như là nuôi chim đại bàng, chim quạ hoặc mở máy có tiếng kêu như vậy để chim Yến không về ở. Như vậy, nhà Yến sẽ không có Yến về ở. Gia đình

bị đơn bồi thường là mua sự hài hòa với hàng xóm, bà V thấy thế nên cũng bắt chước làm theo, nhưng gia đình bị đơn không đồng ý, vì nghĩ rằng ai cũng làm như vậy thì không có tiền đâu mà cho mọi người.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 06/2023/DS-ST ngày 16 tháng 01 năm 2023 (được sửa chữa, bổ sung theo Quyết định số 18/2023/QĐ-SCBSBA ngày 16 thàng 8 năm 2023) của Tòa án nhân dân huyện Đ đã quyết định:

Áp dụng: - Khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a và c khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 165, Điều 264, Điều 266, Điều 267 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đinh Thị Hương V về việc buộc bị đơn phải trả lại diện tích 105,3m² có các tọa độ, điểm từ M14 (điểm 1) - M4 (điểm 2) - (M12) - M13 (điểm 5) - M12 (điểm 6) - M13 (điểm 7) trong bản đồ đo đạc ngày 13/12/2022.
  2. Về chi phí đo đạc, định giá tài sản, xem xét thẩm định tại chỗ: Bà Đinh Thị Hương V phải chịu tổng số tiền 3.871.000 đồng (trong đó: 1.571.000 đồng chi phí đo đạc; 1.200.000 đồng chi phí định giá tài sản; 1.100.000 đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ). Tổng số tiền này bà Đinh Thị Hương V đã nộp.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Đinh Thị Hương V phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền số 0018673 ngày 07/8/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ. Bà Đinh Thị Hương V đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 30/01/2023, nguyên đơn bà Đinh Thị Hương V kháng cáo đề nghị sửa Bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • - Nguyên đơn giữ nguyên kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn.
  • - Bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
  • - Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
  1. Về tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án.
  2. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Đinh Thị

Hương V, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 06/2023/DS-ST ngày 16 tháng 01 năm 2023 (được sửa chữa, bổ sung theo Quyết định số 18/2023/QĐ-SCBSBA ngày 16 thàng 8 năm 2023) của Tòa án nhân dân huyện Đ và buộc bà Đinh Thị Hương V phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến trình bày và tranh luận tại phiên tòa của các đương sự, quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn và bị đơn đều thống nhất xác định diện tích đất tranh chấp là 105,3m² đất tọa lạc tại thôn 1A, xã Tr1, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận, được giới hạn bởi các mốc tọa độ M14 (điểm 1) - M4 (điểm 2) - (M12) - (M13) (điểm 5, 8, M11) - M12 (điểm 6) - M13 (điểm 7) theo Sơ đồ hiện trạng thửa đất đang tranh chấp do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai Đ ký duyệt ngày 13/12/2022.

[2] Theo nguyên đơn bà Đinh Thị Hương V thì nguồn gốc diện tích đất tranh chấp nêu trên thuộc diện tích khoảng 2.000m² đất (chiều ngang 25m, chiều dài 80m) do gia đình bà nhận chuyển nhượng của ông Ngô Văn T2 vào năm 1985, thời gian đó đất vẫn chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên hai bên chỉ đo đạc bằng tay và viết giấy tay nhưng giấy này đã bị thất lạc. Sau đó, UBND huyện Đ ban hành Quyết định số 226/QĐ-UBĐL ngày 14/12/1996 cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C 886381 cho gia đình bà V là thửa 575, tờ bản đồ số 08, diện tích 1.200m². Sau nhiều lần tách thửa, chuyển nhượng thì diện tích hiện còn là 625m².

[3] Đối với diện tích đất nêu trên, bà V không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào xác định diện tích gia đình bà nhận chuyển nhượng của ông Ngô Văn T2 là 2.000m² đất (có chiều ngang 25m, chiều dài 80m) như bà V khai, chỉ có giấy viết tay của ông Ngô Văn T2 đề ngày 13/5/2018 xác nhận lại có chuyển nhượng diện tích đất như bà V khai, nhưng xác nhận của ông T2 cũng không có tài liệu, chứng cứ gì chứng minh phần diện tích ông T2 đã chuyển nhượng cho gia đình bà V là 2.000m² đất (có chiều ngang 25m, chiều dài 80m).

[4] Theo phúc đáp của UBND huyện Đ tại Công văn số 2844/UBND-NC ngày 27/12/2022:

“1. Nguồn gốc và quá trình sử dụng thửa đất số 575, tờ bản đồ số 08, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C 886391 mang tên Đinh Thị Hương V:

Vào khoảng năm 1977, Hợp tác xã Tr1 cấp cho hộ ông Hoàng Văn Long thửa đất số 575, tờ bản đồ 08, diện tích 1.200m² để sử dụng; đến năm 1979, ông Hoàng Văn Long chuyển nhượng thửa đất trên cho ông Ngô Văn T2, sau đó ông Ngô Văn T2 chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn T5 sử dụng. Năm 1985, ông Nguyễn Văn T5 tặng cho vợ chồng ông Nguyễn Đức Ng sử dụng. Đến năm 1996, hộ ông Nguyễn Đức Ng (vợ là bà Đinh Thị Hương V) được Hội đồng xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của xã Tr1 xét duyệt đủ điều kiện cấp Giấy

chứng nhận quyền sử dụng đất và đề nghị UBND huyện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C 886381 đối với thửa 575, tờ bản đồ số 08, diện tích 1.200m², cấp ngày 14/12/1996 tại Quyết định số 226/QĐ-UBĐL.

Năm 1997, hộ bà Đinh Thị Hương V tách thửa, chuyển nhượng một phần diện tích thửa đất và diện tích còn lại sử dụng là 625m². Ngày 17/02/2012, bà Đinh Thị Hương V được thừa kế quyền sử dụng đất thửa đất số 575, tờ bản đồ số 08, diện tích 625m² và Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai Đ chỉnh lý nội dung biến động cho bà Đinh Thị Hương V ngày 29/02/2012.

2. Nguyên nhân của việc biến động về diện tích trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C 886381 và kết quả đo đạc hiện trạng:

Nguyên nhân chênh lệch diện tích đất trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất so với kết quả đo đạc thực tế là do trước đây diện tích trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Đinh Thị Hương V được đo đạc bằng thước dây và được tính toán bằng phương pháp thủ công. Nên có sai số so với kết quả đo đạc của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai Đ lập là được đo đạc và tính toán bằng phần mềm chuyên dùng.”

[5] Ngoài ra, để có cơ sở giải quyết vụ án đảm bảo quy định của pháp luật, vào ngày 18/01/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận đã có Công văn gửi Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai Đ xác minh phần diện tích đất tranh chấp đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ai chưa? Đến ngày 23/4/2024, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai Đ phúc đáp tại Công văn số 331/CNVPĐKĐĐĐL xác định diện tích đất tranh chấp 105,3m² thuộc một phần thửa đất số 573, tờ bản đồ 08, diện tích 1.500m² đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C 893249 cho ông Trần Đăng C ngày 24/12/1996. Ngày 22/8/2008 điều chỉnh hình thể, diện tích thửa đất từ diện tích 1.500m² thành 1.188m² tại trang 4 Giấy chứng nhận. Ngày 15/10/2008, thửa đất số 573 đã chuyển quyền cho ông Nguyễn Tiến P2 và bà Phạm Thị H3 được cấp tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 839400.

[6] Mặt khác, nếu cho rằng phần diện tích đất tranh chấp 105,3m² thuộc thửa đất 575, tờ bản đồ số 08, diện tích 1.200m² do UBND huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C 886381 ngày 14/12/1996 theo Quyết định số 226/QĐ-UBĐL cho bà V thì hình thể thửa đất theo hiện trạng khác nhiều so với hình thể thửa đất thể hiện trong Giấy chứng nhận và bản đồ 299.

[7] Như vậy, đủ cơ sở để khẳng định phần diện tích đất tranh chấp 105,3m² không thuộc thửa đất số 575, tờ bản đồ số 08, diện tích 1.200m² do UBND huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C 886381 ngày 14/12/1996 theo Quyết định số 226/QĐ-UBĐL cho gia đình bà V và bà V khởi kiện nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì chứng minh phần diện tích đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà V, nên Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà V là hoàn toàn có căn cứ.

[8] Đối với ý kiến của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai Đ tại Công văn số 331/CNVPĐKĐĐĐL ngày 23/4/2024 về việc xác định diện tích đất tranh chấp 105,3m² thuộc một phần thửa đất số 573, tờ bản đồ 08 hiện đã cấp Giấy

chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 839400 ngày 15/10/2008 cho ông Nguyễn Tiến P2 và bà Phạm Thị H3. Tòa án đã tiến hành lấy lời khai của ông Nguyễn Tiến P2. Tại biên bản lấy lời khai ngày 28/11/2024, ông P2 xác định không có tranh chấp và không có yêu cầu gì đối với phần diện tích đất tranh chấp 105,3m² này, nên không cần thiết đưa vợ chồng ông P2 vào tham gia tố tụng trong vụ án này. Sau này, các bên có tranh chấp thì có quyền khởi kiện thành một vụ án khác để được giải quyết theo quy định của pháp luật.

[9] Từ nhận định trên, xét thấy kháng cáo của nguyên đơn bà Đinh Thị Hương V không có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận, như ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp.

[10] Về án phí dân sự phúc thẩm và chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ phát sinh trong giai đoạn xét xử phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên người kháng cáo phải chịu theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Đinh Thị Hương V; Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 06/2023/DS-ST ngày 16 tháng 01 năm 2023 (được sửa chữa, bổ sung theo Quyết định số 18/2023/QĐ-SCBSBA ngày 16 thàng 8 năm 2023) của Tòa án nhân dân huyện Đ.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 166, khoản 1 Điều 170 Luật Đất đai năm 2013; khoản 5 Điều 26, khoản 1 Điều 31 Luật Đất đai năm 2024; khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 2 Điều 27, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đinh Thị Hương V về việc yêu cầu: Buộc vợ chồng bị đơn bà Trần Thị H và ông Nguyễn Quang T (đã chết ngày 17/12/2020, có người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng là bà Trần Thị H, ông Nguyễn Kim T1, bà Nguyễn Kim Q, ông Nguyễn Minh Ph và bà Nguyễn Hải L1) phải tháo dỡ nhà Yến và trả lại cho bà Đinh Thị Hương V diện tích 105,3m² đất tọa lạc tại thôn 1A, xã Tr1, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận (được giới hạn bởi các mốc tọa độ M14 (điểm 1) - M4 (điểm 2) - (M12) - (M13) (điểm 5, 8, M11) - M12 (điểm 6) - M13 (điểm 7) theo Sơ đồ hiện trạng thửa đất đang tranh chấp do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai Đ ký duyệt ngày 13/12/2022 đính kèm).
  2. Về án phí:
    1. Buộc bà Đinh Thị Hương V phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu số 0018673 ngày 07/08/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ; Bà Đinh Thị Hương V đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
    2. Buộc bà Đinh Thị Hương V phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu số 0014794 ngày 08/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ; Bà Đinh Thị Hương V đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
  3. Về chi phí tố tụng khác:
    1. Buộc bà Đinh Thị Hương V phải chịu 1.571.000đồng (Một triệu, năm trăm bảy mươi mốt nghìn đồng) chi phí đo đạc, 1.200.000 đồng (Một triệu, hai trăm nghìn đồng) chi phí định giá tài sản và 1.100.000đồng (Một triệu, một trăm nghìn đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ phát sinh trong giai đoạn sơ thẩm; Bà Đinh Thị Hương V đã nộp đủ.
    2. Buộc bà Đinh Thị Hương V phải chịu 5.000.000đồng (Năm triệu đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ phát sinh trong giai đoạn phúc thẩm; Bà Đinh Thị Hương V đã nộp đủ.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (05/12/2024).

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh B. Thuận;
  • - TAND huyện Đ;
  • - VKSND huyện Đ;
  • - Chi cục THADS huyện Đ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: hồ sơ, Tổ HCTP, TDS;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hồng Thái

10

Thành viên Hội đồng xét xử

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Văn Thành

Nguyễn Lê Phương

Nguyễn Hồng Thái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 217/2024/DS-PT ngày 05/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 217/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 05/12/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án Tranh chấp quyền sử dụng đất giữa NĐ Đinh Thị Hương V - BĐ Trần Thị H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger