|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 2163/2023/DS-ST
Ngày: 31-10-2023
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chu Thị Nguyệt
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Nhơn
2. Bà Nguyễn Thị Bính Thân
Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Thanh Trân - Thư ký Toà án nhân dân
quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh tham gia phiên toà:
Bà Đặng Thị Phương Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai đối với vụ án dân sự thụ lý số 1242/2023/TLST-DS ngày 26/6/2023 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 621/2023/QĐXXST-DS ngày 18/9/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 489/2023/QĐST-DS ngày 09/10/2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H
Trụ sở: 25 Bis N, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện theo ủy quyền : Bà Tạ Thị Ngọc N (có mặt)
(Giấy ủy quyền số .../2023/GUQ-HDB076 ngày 07/6/2023)
Bị đơn : Bà Phan Thị A, sinh năm 1986 (vắng mặt)
Địa chỉ: B Lô P T, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 07/6/2023, tại bản tự khai và các biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Ký kết hợp đồng:
Ngày 05/3/2022, Ngân hàng Thương Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố H và bà Phan Thị A có ký kết Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng cá nhân kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng và Bản điều khoản, điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng H1 gọi tắt là Hợp đồng tín dụng) hợp đồng tín dụng số L220305172306823, loại thẻ cá nhân tín chấp. Căn cứ vào thu nhập của bà A, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng Master card với tổng hạn mức tín dụng là 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) cho bà A sử dụng với mục đích tiêu dùng cá nhân.
Thực hiện hợp đồng:
Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà A đã sử dụng thẻ để thực hiện các giao dịch nhưng lại không thanh toán đúng hạn như đã thỏa thuận trong hợp đồng. Do bà A không thanh toán dư nợ thẻ liên tục trong hạn 60 ngày nên Ngân hàng đã khóa thẻ tín dụng không cho bà A tiếp tục sử dụng từ ngày 01/01/2023. Ngân hàng nhiều lần nhắc nhở và tạo điều kiện cho bà A trả nợ nhưng bà A vẫn không phản hồi và cắt đứt mọi liên hệ.
Tính đến ngày 31/10/2023, bà A còn nợ Ngân hàng số tiền tổng cộng 183.066.598đồng, trong đó bao gồm tiền nợ gốc là 99.996.068đồng + tiền lãi và các khoản phí 83.070.530đồng (gồm tiền lãi 31.736.737đồng + tiền phí chậm thanh toán 46.291.037đồng + phí vượt hạn mức 4.602.756đồng + phí thường niên 440.000đồng).
Bị đơn – Bà Phan Thị A:
Sau khi thụ lý hồ sơ, Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục xác minh, thu thập chứng cứ và tiến hành các thủ tục tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, nhưng bà A vẫn không có mặt tham gia tố tụng, cũng không có ý kiến gì phản hồi về nội dung thông báo thụ lý vụ án của Tòa án.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 16/8/2023 cho bà A. Do bà A vắng mặt không lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên toà:
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết buộc phía bị đơn – bà Phan Thị A thanh toán số tiền nợ phát sinh từ hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng số L220305172306823 cho Ngân hàng
2
tổng cộng là 183.066.598đồng (Một trăm tám mươi ba triệu không trăm sáu mươi sáu ngàn năm trăm chín mươi tám đồng).
Bị đơn còn phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh tính từ ngày 01/11/2023 trên số tiền nợ gốc cho đến khi thanh toán dứt nợ, theo mức lãi suất quá hạn được quy định trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bảng điều khoản, điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng mà hai bên đã ký kết.
Thời hạn thanh toán và phương thức thanh toán: Thanh toán dứt điểm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn tiếp tục vắng mặt không có lý do.
Phần tranh luận:
Người đại diện hợp pháp của Ngân hàng không có ý kiến phát biểu tranh luận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử:
Thẩm phán xác định đúng quan hệ tranh chấp, đúng thẩm quyền giải quyết, xác định vụ án thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, việc gửi, cấp tống đạt các văn bản tố tụng cho đương sự và Viện kiểm sát đúng quy định từ Điều 170 đến Điều 181 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Tòa án đã tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo đúng quy định tại các Điều 209, 210 và 211 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Tại phiên tòa, thành phần Hội đồng xét xử gồm những thành viên như đã công bố trong quyết định đưa vụ án ra xét xử. Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 51 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:
Nguyên đơn thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ được quy định tại Điều 70 và Điều 71 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ được quy định tại Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 227, Điều 228 Bộ Luật TTDS năm 2015; Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
3
Về án phí sơ thẩm: Bị đơn – bà Phan Thị A phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; nghe ý kiến của đương sự; nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Quan hệ tranh chấp giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Pgat1 triển Thành phố H và bà Phan Thị A là tranh chấp Hợp đồng tín dụng. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản của Bộ luật Tố tụng Dân sự đây là loại vụ việc tranh chấp về hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Bị đơn – bà Phan Thị A khai địa chỉ cư trú vào thời điểm ký hợp đồng với nguyên đơn tại số B Lô P T, Phường B, quận B. Theo kết quả cung cấp chứng cứ của Công an P, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh phúc đáp Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ số 1647/2023/QĐ-CCTLCC ngày 14/7/2023 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh đã xác minh “Đương sự Phan Thị A, sinh năm 1986 có hộ khẩu thường trú tại B Lô P T, Phường B, quận B”, có cơ sở xác định đây là địa chỉ cư trú của bị đơn. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh.
[2]. Về thủ tục tố tụng:
Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ bị đơn tham gia phiên tòa sơ thẩm xét xử lần 1 vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 09/10/2023 và lần 2 lúc 08 giờ 00 phút ngày 31/10/2023 nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành phiên tòa theo quy định.
[3]. Về yêu cầu của nguyên đơn :
Nguyên đơn yêu cầu bà Phan Thị A thanh toán số tiền nợ gốc là 99.996.068đồng, Hội đồng xét xử nhận định:
Căn cứ Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng số L220305172306823 (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản, điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng) ngày 05/3/2022 đã được Ngân hàng phê duyệt cùng ngày; Bảng tổng hợp sao kê thẻ tín dụng cùng các chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định nguyên đơn đã cấp thẻ tín dụng cho bị đơn sử dụng với hạn mức 100.000.000 đồng. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bị đơn đã thực hiện giao dịch nhưng lại không thanh toán đúng hạn theo quy định là vi phạm Điều 14 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Từ
4
tháng 11/2022 đến nay, bị đơn ngưng không thực hiện nghĩa vụ trả nợ mặc dù nguyên đơn đã nhiều lần nhắc nhở và tạo điều kiện cho bị đơn trả nợ. Ngày 01/01/2023, Nguyên đơn đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của bị đơn và chuyển toàn bộ dư nợ còn lại của bị đơn sang nợ quá hạn theo quy định tại Điều 7 và Điều 15 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Việc vi phạm của bị đơn trong một thời gian dài đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi của nguyên đơn. Do vậy, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền nợ gốc phát sinh từ những giao dịch sử dụng thẻ tín dụng mà nguyên đơn đã cấp cho bị đơn là hoàn toàn phù hợp với quy định tại các Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Nguyên đơn yêu cầu bà Phan Thị A thanh toán tiền lãi và các loại phí tính đến ngày 31/10/2023 là 83.070.530đồng (trong đó bao gồm tiền lãi 31.736.737đồng và các loại tiền phí 51.333.793đồng), Hội đồng xét xử nhận định:
Trong hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng các bên đã thống nhất thỏa thuận, thời hạn thanh toán, lãi suất và các loại phí được áp dụng theo biểu lãi suất thẻ tín dụng của bên phát hành thẻ, nên việc bà A không thanh toán tiền nợ gốc, nợ lãi theo đúng thời hạn đã thỏa thuận là vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Xem xét về thời gian tính lãi, mức lãi suất và phí chậm thanh toán, phí vượt hạn mức, phí thường niên mà ngân hàng đã áp dụng là hoàn toàn phù hợp thỏa thuận của các bên đương sự được quy định tại Điều 4 của Bảng điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố H và phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016; Điều 1 Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng N1 hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận; khoản 2 Điều 11 Quy chế cho vay của Tổ chức tín dụng đối với khách hàng được ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN31-12-2001 của Thống đốc Ngân hàng N1 được sửa đổi, bổ sung bằng Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN03/02/2005; Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Do đó, yêu cầu về thanh toán tiền lãi và các khoản tiền phí của nguyên đơn có cơ sở để chấp nhận.
Trong khi đó, bị đơn vắng mặt không có lý do trong suốt quá trình toà án tiến hành điều tra thu thập chứng cứ và tại phiên toà hôm nay, mặc dù toà án đã tiến hành tống đạt hợp lệ cho phía bị đơn. Bị đơn đã tự từ bỏ quyền tranh tụng tại toà để bảo vệ quyền lợi cho mình. Do vậy, Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét cho quyền lợi của bị đơn.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn thanh phải toán số tiền tổng cộng là 183.066.598đồng (Một trăm tám mươi ba triệu không trăm sáu mươi sáu ngàn năm trăm chín mươi tám đồng), trong đó bao gồm tiền nợ gốc 99.996.068đồng + 83.070.530đồng tiền
5
lãi và các khoản phí tính đến ngày 31/10/2023 hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật nên có cơ sở để chấp nhận toàn bộ như lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh.
[4].Về án phí:
Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải trả cho nguyên đơn.
Nguyên đơn không phải chịu án phí nên được hoàn lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 146, Điều 147, Điều 157, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 267, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật dân sự 2015;
Áp dụng Khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Áp dụng Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự;
Áp dụng Luật án phí, lệ phí Tòa án;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn- Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố H.
Buộc bị đơn – bà Phan Thị A phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố H số tiền nợ phát sinh từ Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng số L220305172306823 mà hai bên đã ký ngày 05/3/2022, tổng cộng là 183.066.598đồng (Một trăm tám mươi ba triệu không trăm sáu mươi sáu ngàn năm trăm chín mươi tám đồng), trong đó bao gồm tiền nợ gốc 99.996.068đồng + 83.070.530đồng. Tiền lãi và các khoản phí tính đến ngày 31/10/2023.
Thời hạn thi hành: Thanh toán dứt điểm một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày 01/11/2023, bà A còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.
6
Trường hợp trong hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Các bên đương sự thi hành án tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
2. Về án phí:
Án phí dân sự sơ thẩm là 9.153.330đồng (Chín triệu một trăm năm mươi ba ngàn ba trăm ba mươi ba đồng) bà Phan Thị A có nghĩa vụ phải nộp toàn bộ.
H lại số tiền tạm ứng án phí 3.227.000đồng (Ba triệu hai trăm hai mươi bảy ngàn đồng) cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố H, theo biên lai thu số 0028051 ngày 21/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh.
3. Quyền kháng cáo:
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố H được quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bà Phan Thị A được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt bản án hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận: -TAND TP. HCM; -VKSND quận Bình Thạnh; -THADS quận Bình Thạnh; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, VT. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chu Thị Nguyệt |
7
8
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Chu Thị Nguyệt
9
Bản án số 2163/2023/DS-ST ngày 31/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 2163/2023/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/10/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
