Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHỢ MỚI

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 216/2023/DS-ST

Ngày: 22/12/2023

V/v tranh chấp “Hợp đồng thuê đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Tuyền

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Võ Thanh Nhàn;
  2. Bà Đào Thị Thu Vân;

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Tường Vi, Thư ký Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thụy Thùy Trang, Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 258/2023/TLST-DS ngày 12 tháng 10 năm 2023 về việc tranh chấp “Hợp đồng thuê đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 591/2023/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1986, cư trú: số A, ấp L, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).
  2. Bị đơn: Ông Phạm Văn T, sinh năm 1964, cư trú: tổ A, ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
  4. Bà Trần Thị T1, sinh năm 1959, cư trú: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 01 tháng 8 năm 2023, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh H trình bày:

Vào ngày 02/5/2017 bà và ông Phạm Văn T thỏa thuận là bà thuê của ông T diện tích 15.000m² đất lúa, mục đích thuê là để trồng cây mít, giá cho thuê là 2.500.000đ/công/năm, thời hạn thuê là 10 năm kể từ ngày 01/6/2017 đến ngày 01/6/2027. Khi làm hợp đồng thuê đất thì chỉ có bà và ông Tư làm hợp đồng và ký tên vào hợp đồng ngày 02/5/2017, đến ngày 03/5/2017 bà đã giao đủ 400.000.000 đồng cho ông T, ông T là người trực tiếp nhận tiền của bà.

Vào tháng 7 năm 2023 nhà nước thu hồi lại 4.000m² đất để làm kênh A-B, bà đã chặt cây mít để bàn giao lại diện tích 4.000m² đất cho nhà nước. Diện tích 4.000m² đất nằm trong diện tích 15.000m² đất mà bà đã thuê của ông T, hiện nay bà chỉ còn sử dụng 11.000m² đất. Số tiền bà bị thiệt hại về cây do nhà nước thu hồi diện tích 4.000m² đất thì bà đã nhận đủ tiền bồi thường (cây do bà tự trồng). Nay bà không tranh chấp hợp đồng thuê đất với ông T, hiện nay bà vẫn còn sử dụng 11.000m² đất mà bà đã thuê vào ngày 02/5/2017, bà chỉ tranh chấp số tiền thuê đất đối với 4.000m² đất mà bà đã trả tiền thuê cho ông T vào ngày 03/5/2017, vì hiện nay bà không còn canh tác diện tích 4.000m² đất này nữa do nhà nước đã thu hồi của ông T đồng thời ông T cũng đã nhận tiền bồi hoàn đối với diện tích 4.000m² đất này.

Nay bà xác định lại yêu cầu khởi kiện là yêu cầu ông T trả lại số tiền 40.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi, số tiền này bà đã trả tiền thuê đất cho ông T vào ngày 03/5/2017 đối với diện tích 4.000m² đất mà bà thuê của ông T với giá 2.500.000đồng/công/năm vì hiện nay diện tích 4.000m² đất này không còn, thời gian còn lại 04 năm bà không canh tác (từ năm 2023 đến năm 2027).

Bị đơn ông Phạm Văn T trình bày:

Vào ngày 02/5/2017 ông và bà Nguyễn Thị Thanh H có thỏa thuận là bà H thuê đất của ông với diện tích 15.000m² đất lúa, mục đích thuê là để trồng cây mít, giá cho thuê là 2.500.000đ/công/năm với thời hạn thuê từ ngày 01/6/2017 đến ngày 01/6/2027. Vào ngày 03/5/2017 ông đã nhận của bà H số tiền 400.000.000 đồng. Khi ký hợp đồng thuê đất chỉ có ông và bà H ký hợp đồng và thực hiện giao nhận tiền, ông là người trực tiếp nhận tiền với bà H, còn bà T1 (vợ ông) thì chỉ biết vợ chồng cho bà H thuê đất chứ không trực tiếp làm giấy tờ và cũng không trực tiếp nhận tiền.

Tháng 7 năm 2023 nhà nước thu hồi lại 4.000m² đất để làm kênh A-B, hiện nay bà H chỉ canh tác 11.000m², số tiền bồi thường đất thì ông đã nhận, còn tiền bồi thường cây là bà H đã nhận. Bà H yêu cầu ông trả lại 40.000.000 đồng thì ông không đồng ý vì bà H nhờ đất của ông mới hưởng được tiền bồi hoàn cây, hơn nữa số tiền bà H nhận bồi hoàn từ nhà nước là đến khi cây chết là đến khi hợp đồng thuê đất giữa ông với bà H kết thúc chứ không phải bồi hoàn đến nay do đó ông không đồng ý trả lại số tiền thuê đất 40.000.000 đồng cho bà H.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị T1 trình bày:

Bà và ông Phạm Văn T (chồng bà) có diện tích đất hơn 15.000m² và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 21/9/2017. Vào năm 2017 ông T có làm giấy để cho bà H thuê diện tích đất 15.000m², khi làm giấy thuê đất chỉ có ông T và bà H, bà không có làm giấy tờ nhưng bà biết vì vợ chồng đồng ý cho bà H thuê đất với thời hạn thuê là 10 năm, giá thuê 15.000m² là 400.000.000 đồng, bà H đã giao đủ số tiền 400.000.000 đồng vào năm 2017. Khi nhận tiền là ông T nhận tiền và làm giấy tờ thuê đất, bà không có làm giấy tờ với bà H mà bà chỉ biết là vợ chồng bà có cho bà H thuê diện tích đất 15.000m², bà H giao đủ số tiền 400.000.000 đồng.

Đến tháng 7 năm 2023 thì nhà nước thu hồi diện tích 4.000m² trong diện tích đất 15.000m² mà vợ chồng bà cho bà H thuê. Khi thu hồi đất nhà nước đã bồi hoàn tiền cho vợ chồng bà. Đối với yêu cầu khởi kiện của bà H yêu cầu của ông T trả số tiền 40.000.000 đồng thì bà không đồng ý vì bà H đã nhận số tiền bồi thường là nhờ vào đất của vợ chồng bà thì bà H mới được bồi hoàn số tiền như hiện nay.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà H yêu cầu ông T trả số tiền 40.000.000 đồng, số tiền thuê đất bà đã trả cho diện tích 4.000m² đất nhà nước đã thu hồi vì hiện nay diện tích đất này không còn. Ông T không đồng ý trả cho bà H số tiền 40.000.000 đồng, ông cho rằng bà H nhờ đất của ông mới được nhận bồi hoàn tiền cây.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới phát biểu:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn, bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật.

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 73 và Điều 234 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án:

Ngày 03/5/2017, bà H và ông T thỏa thuận, bà H thuê từ ông T diện tích đất 15.000m² để trồng cây mít, với giá 2.500.000 đồng/công/năm, thời hạn thuê là 10 năm kể từ ngày 01/6/2017 đến ngày 01/6/2027. Bà H đã giao đủ số tiền 400.000.000 đồng và nhận đất canh tác đến tháng 7/2023 thì Ủy ban nhân dân huyện C có Quyết định thu hồi 4.000m² đất để làm kênh A-B. Diện tích 4.000m² đất nằm trong diện tích 15.000m² đất mà bà đã thuê của ông T, hiện nay bà chỉ còn sử dụng 11.000m² đất nên bà khởi kiện yêu cầu ông T trả lại số tiền thuê diện tích đất 4.000m² do không được canh tác trong thời gian còn lại là 40.000.000 đồng, không tranh chấp hợp đồng thuê đất với ông T.

Phía ông T thừa nhận đã nhận 400.000.000 đồng tiền thuê đất từ bà H. Việc Nhà nước thu hồi đất, bà H cũng được bồi thường tiền cây trên đất, không đồng ý trả do nhờ có đất của ông, bà H mới được hưởng tiền bồi hoàn số cây trên đất.

Xét thấy, xuất phát từ thỏa thuận giữa ông T và bà H, trong đó bà H thuê diện tích đất 15.000m² từ ông T, với giá 400.000.000 đồng, thời hạn thuê 10 năm, bà H đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của người thuê đất giao cho ông T số tiền 400.000.000 đồng, ông T đã giao cho bà H diện tích đất 15.000m². Tuy nhiên, đến tháng 7/2023, Nhà nước đã thu hồi 4.000m² của ông T và hiện nay bà H chỉ canh tác 11.000m², làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bà H nên việc bà H khởi kiện yêu cầu ông T trả lại số tiền 40.000.000 đồng là có căn cứ phù hợp Điều 422 Bộ luật Dân sự.

Căn cứ Điều 422 Bộ luật Dân sự, đề nghị:

  • Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thanh H.
  • Buộc ông Phạm Văn T trả bà Nguyễn Thị Thanh H số tiền 40.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật: Theo đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thanh H yêu cầu ông Phạm Văn T trả lại số tiền thuê đất 40.000.000 đồng. Căn cứ khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 3 Điều 188 Luật đất đai năm 2013 xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp hợp đồng thuê đất.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn ông Phạm Văn T, cư trú tại ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

[2] Về nội dung:

[2.1] Ngày 02/5/2017 bà Nguyễn Thị Thanh H và ông Phạm Văn T có ký hợp đồng thuê đất với nội dung thỏa thuận bà H thuê của ông T diện tích 15.000m² đất lúa, giá cho thuê là 2.500.000đ/công/năm, thời hạn thuê là 10 năm kể từ ngày 01/6/2017 đến ngày 01/6/2027, mục đích thuê là để trồng cây mít. Đến ngày 03/5/2017 bà H đã giao cho ông T số tiền 400.000.000 đồng. Đến tháng 6 năm 2023 nhà nước có quyết định thu hồi diện tích 4.000m² đất nằm trong diện tích 15.000m² đất lúa mà bà H đã thuê. Bà H không tranh chấp hợp đồng thuê đất giữa hai bên mà bà chỉ yêu cầu xem xét số tiền 40.000.000 đồng bà đã trả trước cho ông T đối với diện tích 4.000m² đất, vì hiện nay đất không còn nên bà không sử dụng thì ông T phải trả lại cho bà số tiền 40.000.000 đồng.

[2.2] Xét thấy, đối tượng của hợp đồng thuê đất ngày 02/5/2017 giữa bà H với ông T là diện tích 15.000m² đất lúa. Tại thời điểm hai bên thực hiện hợp đồng thì ông T đã giao cho bà H diện tích 15.000m² đất, bà H đã giao đủ số tiền 400.000.000 đồng theo thỏa thuận. Đến ngày 12/6/2023 Ủy ban nhân dân huyện C ban hành quyết định số 1096/QĐ-UBND về việc thu hồi đất của ông Phạm Văn T, bà Trần Thị T1 đối với diện tích 4.000m² đất nằm trong diện tích 15.000m² đất bà H thuê của ông T.

[2.3] Ông T xác định ngày 02/5/2017 giữa ông và bà H có ký hợp đồng thuê đất vào ngày 02/5/2017 đối với diện tích 15.000m² đất lúa, ngày 03/5/2017 ông đã nhận của bà H số tiền 400.000.000 đồng. Đến ngày 12/6/2023 Ủy ban nhân dân huyện C đã ban hành quyết định thu hồi diện tích 4.000m2 nằm trong diện tích 15.000m² bà H thuê, ông không đồng ý trả số tiền 40.000.000 đồng vì bà H nhờ đất của ông mới hưởng được tiền bồi hoàn cây. Nhận thấy, số tiền 40.000.000 đồng bà H yêu cầu trả là tiền thuê đất từ ngày 12/6/2023 (ngày nhà nước ban hành quyết định thu hồi đất) đến ngày 01/7/2027 (thời hạn kết thúc hợp đồng), hiện nay bà H không còn canh tác, sử dụng đối với diện tích 4.000m², ông T cho rằng bà H nhờ đất của ông mới được tiền bồi hoàn là không có cơ sở để xem xét bởi bà H thuê đất của ông T mục đích là để trồng cây, bà H cũng đã trả tiền thuê đất cho ông T nên việc nhà nước bồi hoàn tiền cây cho bà H thì số tiền này là đối với cây cối bà H trồng trên đất.

[2.4] Diện tích 4.000m² đất bà H không còn quản lý, sử dụng từ ngày 12/6/2023 đến nay do nhà nước đã thu hồi nên đối tượng hợp đồng không còn. Hợp đồng thuê đất ngày 02/5/2017 giữa bà H với ông T đối với diện tích 4.000m² không thể thực hiện theo quy định khoản 5 Điều 422 BLDS năm 2015: “hợp đồng không thể thực hiện được do đối tượng của hợp đồng không còn”. Do vậy, bà H khởi kiện yêu cầu ông T trả lại số tiền 40.000.000 đồng, số tiền bà H trả cho ông T thuê diện tích 4.000m² từ ngày 12/6/2023 đến khi hợp đồng kết thúc (ngày 01/7/2027) là có căn cứ để chấp nhận.

Đối với hợp đồng thuê đất vào ngày 02/5/2017, diện tích 15.000m2 đất lúa giữa bà H và ông T. Do các đương sự không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.

[2.4] Về án phí dân sự sơ thẩm: ông T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 422 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 3 Điều 188 Luật đất đai năm 2013, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thanh H.

Buộc ông Nguyễn Văn T2 có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị Thanh H số tiền 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Nguyễn Văn T2 phải chịu 2.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

- TAND tỉnh An Giang;

- VKSND H. Chợ Mới;

- Chi cục THADS H. Chợ Mới;

- Các đương sự;

- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Tuyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 216/2023/DS-ST ngày 22/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng thuê đất

  • Số bản án: 216/2023/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng thuê đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/12/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 22 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 258/2023/TLST-DS ngày 12 tháng 10 năm 2023 về việc tranh chấp “Hợp đồng thuê đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 591/2023/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1986, cư trú: số A, ấp L, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt). 2. Bị đơn: Ông Phạm Văn T, sinh năm 1964, cư trú: tổ A, ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt). 3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị T1, sinh năm 1959, cư trú: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger