|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 216/2024/DS-PT Ngày 22-4-2024 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Tuyền.
Các Thẩm phán: Ông Lê Sỹ Trứ;
Bà Ngô Thị Bích Diệp.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Cường - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Phước – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 620/2023/TLPT-DS ngày 19 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 32/2023/DS-ST ngày 20 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 41/2024/QĐ-PT ngày 22 tháng 01 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 106/2024/QĐ-PT ngày 19 tháng 02 năm 2024; Thông báo mở lại phiên tòa số 38/TB-TA ngày 18 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 182/2024/QĐ-PT ngày 04 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Bích P, sinh năm 1972; địa chỉ: số nhà B, ấp C, xã H, huyện B, tỉnh Bình Dương; có mặt.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trịnh Văn S, sinh năm 1983; địa chỉ thường trú: số E L, khu E, phường H, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ liên lạc: số D Đại lộ B, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 11/3/2024); có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Doãn H, Luật sư của Công ty L1, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B; có mặt.
- Bị đơn: Ông Bùi Văn C, sinh năm 1965 địa chỉ: số B, tổ F, ấp C, xã H, huyện B, tỉnh Bình Dương.
2
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Bà Bùi Thị Kim H1, sinh năm 1987; địa chỉ: số B, tổ F, ấp C, xã H, huyện B, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 25/7/2023); có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Hoàng Trọng Đ, Luật sư của Công ty L2, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trần Thị Thu T, sinh năm 1993; địa chỉ thường trú: ấp C, xã H, huyện B, tỉnh Bình Dương; địa chỉ tạm trú: số E, đường B, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Cháu Bùi Đức T1, sinh ngày 07 tháng 8 năm 2006; địa chỉ: số B, ấp C, xã H, huyện B, tỉnh Bình Dương.
- Bà Bùi Thị Phượng H2, sinh năm 2001; địa chỉ: số B, ấp C, xã H, huyện B, tỉnh Bình Dương; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bà Mai Kim P1, sinh năm 1966; địa chỉ: số B, ấp C, xã H, huyện B, tỉnh Bình Dương; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bà Đặng Thị Mỹ L, sinh năm 1987; địa chỉ thường trú: ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre; địa chỉ tạm trú: ấp C, xã H, huyện B, tỉnh Bình Dương; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Ông Nguyễn Ngọc D, sinh năm 1982; địa chỉ thường trú: ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre; địa chỉ tạm trú: ấp C, xã H, huyện B, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
- Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Bình Dương; địa chỉ: khu phố Đ, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Dương.
- Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B; địa chỉ: tầng I, tháp A, Tòa nhà T hành chính, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của cháu Bùi Đức T1: Bà Trần Thị Bích P, sinh năm 1972; địa chỉ: số B, ấp C, xã H, huyện B, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo pháp luật; có mặt.
Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Văn T2 – chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Bình Dương; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp: Ông Trần Trọng T3 – Chức vụ: Giám đốc Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện B; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Trần Thị Bích P và bị đơn ông Bùi Văn C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
3
1. Tại Đơn khởi kiện ngày 09 tháng 3 năm 2020 của nguyên đơn bà Trần Thị Bích P, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, ông Đoàn Văn A là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Bà P và ông Bùi Văn H3 là vợ chồng, ông H3 chết ngày 26 tháng 6 năm 2015 do bệnh. Ông Bùi Văn C và bà Mai Kim P1 là cậu mợ của ông H3. Cha mẹ của ông H3: cha không xác định, mẹ là bà Bùi Thị B, sinh năm 1956, chết ngày 14 tháng 01 năm 2016. Bà Bùi Thị B là chị của ông C, mẹ của bà B và ông C là bà Nguyễn Thị D1 (bà ngoại của ông H3), đã chết trước ông H3. Bà P và ông H3 bắt đầu chung sống với nhau năm 1988, khi đó ông H3 khoảng 15 tuổi, bà P khoảng 16 tuổi, cả hai có tổ chức đám cưới; tuy nhiên đến ngày 29 tháng 5 năm 2002, bà P và ông H3 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện B (nay là huyện B), tỉnh Bình Dương. Bà P và ông H3 có 03 người con chung: Bà Trần Thị Thu T, sinh năm 1993. Theo Giấy khai sinh của bà T do bà P cung cấp cho Tòa án, họ tên cha không có, họ tên mẹ là bà P, bà T lấy họ của bà P là họ Trần. Lý do: thời điểm đó bà P và ông H3 chưa đăng ký kết hôn; mặt khác, khi đó bà P và ông H3 cãi nhau nên bà P bỏ nhà đi khoảng 01 năm mới trở về; bà Bùi Thị Phượng H2, sinh năm 2001; cháu Bùi Đức T1, sinh ngày 07 tháng 8 năm 2006.
Nguồn gốc phần đất tranh chấp diện tích 303m² (đo đạc thực tế là 293,3m²) thửa đất số 391, tờ bản đồ số 04 (nay là thửa đất số 97, tờ bản đồ số 17), tọa lạc ấp C, xã H, huyện B, tỉnh Bình Dương như sau: Phần đất này bà Nguyễn Thị D1 (bà ngoại của ông H3) được Nhà nước cấp do đi kinh tế mới (có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bà D1, sổ trắng), diện tích ban đầu là 663m². Từ phần đất này, bà D1 tặng cho ông C một phần (hiện nay là nhà đất vợ chồng ông C đang ở) và cho bà P và ông H3 một phần (hiện nay là đất tranh chấp), việc tặng cho chỉ nói miệng, không làm giấy tờ. Sau khi bà D1 chết năm 1995, bà D1 đã để lại toàn bộ phần đất tranh chấp cho bà P và ông H3 tiếp tục quản lý, sử dụng. Bà P và ông H3 đã xây nhà cấp 04 và các công trình phụ như hiện nay. Các con bà D1 và vợ chồng ông C không ai phản đối gì. Do ông C là người có học trong gia đình nên ông C đứng ra làm thủ tục thừa kế và đứng tên tài sản của bà D1 để lại, các đồng thừa kế thống nhất ký tên trong đó có bà B là mẹ của ông H3 (ông H3 và bà P có nghe ông C nói nhưng không biết ông C có làm sổ không). Ông C hứa sẽ làm thủ tục tách sổ phần đất tranh chấp cho bà P và ông H3 (không có giấy tờ gì). Quá trình chung sống với bà D1, bà P và ông H3 cùng với bà D1 quản lý, cải tạo đất tranh chấp để làm nơi sinh sống và lập nghiệp dưới sự chứng kiến của nhiều người thân trong gia đình và các hộ gia đình gần đất nhất. Sau khi bà D1 chết, bà P và ông H3 tiếp tục quản lý, sử dụng, gìn giữ, tôn tạo đất. Năm 2015, ông H3 chết, mẹ con bà P tiếp tục ở trên đất đến nay. Từ khi ông C hứa làm thủ tục tách sổ phần đất tranh chấp cho bà P và ông H3 năm 1995 đến năm 2015, ông C vẫn không tách sổ cho bà P và ông H3. Sau khi ông H3 chết, gia đình bà P tiến hành thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất tranh chấp thì bà P mới phát hiện ông C đã tự ý kê khai và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có số vào sổ CH00347 ngày 13 tháng 9 năm 2011 do
4
Ủy ban nhân dân huyện B cấp cho ông Bùi Văn C. Khi đó, ông C mới giao bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này cho bà P giữ; ông C nói sẽ làm thủ tục chuyển quyền cho bà P bằng hình thức chuyển nhượng, tuy nhiên sau đó ông C cứ né tránh nên năm 2020 bà P khởi kiện.
Khi phát sinh tranh chấp và khởi kiện, bà P mới phát hiện ông C làm đơn có mất giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 13 tháng 9 năm 2011 và ông C đã được cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có số vào sổ CS02431 ngày 09 tháng 4 năm 2019 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho ông Bùi Văn C. Hiện nay, bà P vẫn giữ bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 13 tháng 9 năm 2011. Nay bà P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Công nhận cho bà P quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất có diện tích là 303m² (đo đạc thực tế là 293,3m²), thuộc thửa đất số 97, tờ bản đồ số 17, tọa lạc ấp C, xã H, huyện B, tỉnh Bình Dương; kiến nghị Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có số vào sổ CS02431 ngày 09 tháng 4 năm 2019 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho ông Bùi Văn C do cấp sai đối tượng.
2. Tại Bản tự khai ngày 16 tháng 6 năm 2020, Biên bản lấy lời khai ngày 19 tháng 5 năm 2021 và tại phiên tòa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày:
Ông Bùi Văn C và bà Mai Kim P1 kết hôn năm 1987 có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Về cha mẹ của ông C: cha là Bùi Văn K, sinh năm 1921, chết khoảng năm 1991 (không có làm chứng tử); mẹ là bà Nguyễn Thị D1, sinh năm 1927, chết ngày 01 tháng 8 năm 1995. Bà D1 còn có tên gọi khác là bà T4. Ông K và bà D1 có 05 người con: ông Bùi Văn H4, sinh năm 1947; nơi cư trú: ấp B, xã H, huyện B, tỉnh Bình Dương; đã chết khoảng 10 năm; bà Bùi Thị S1, sinh năm 1952; nơi cư trú: ấp B, xã H, huyện B, tỉnh Bình Dương; bà Bùi Thị B, sinh năm 1956; nơi cư trú: ấp B, xã H, huyện B, tỉnh Bình Dương, chết năm 2016; ông Bùi Văn T5, sinh năm 1961; nơi cư trú: ấp A, xã H, huyện B, tỉnh Bình Dương và ông Bùi Văn C. Ông Bùi Văn H3 là con của bà Bùi Thị B, ông H3 gọi ông C bằng cậu ruột. Ông H3 chết ngày 26 tháng 6 năm 2015 do bệnh. Bà P và ông H3 bắt đầu chung sống với nhau năm 1992, cả hai có tổ chức đám cưới ở bên phía bà P tại Thành phố Hồ Chí Minh, hai bên có đăng ký kết hôn không thì ông C không rõ. Bà P và ông H3 có 03 người con chung: bà Trần Thị Thu T, sinh năm 1993, bà Bùi Thị Phượng H2, sinh năm 2001 và cháu Bùi Đức T1, sinh ngày 07 tháng 8 năm 2006.
Nguồn gốc phần đất tranh chấp diện tích 303m² (đo đạc thực tế là 293,3m²) thuộc thửa đất số 391, tờ bản đồ số 04 (nay là thửa đất số 97, tờ bản đồ số 17), tọa lạc ấp C, xã H, huyện B, tỉnh Bình Dương là của bà Nguyễn Thị D1 (mẹ ông C) được Nhà nước cấp do đi kinh tế mới năm 1976 (có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 04 tháng 12 năm 1993 mang tên bà D1, sổ trắng), diện tích ban đầu là 663m². Ông C là con trai út của bà D1 nên ở chung với bà D1. Sau khi kết hôn, vợ chồng ông C cũng ở chung với bà D1. Ông H3 từ
5
nhỏ vừa ở với mẹ, vừa ở với bà D1. Sau khi ông H3 và bà P làm đám cưới, cả hai sống bên nhà bà P ở Thành phố Hồ Chí Minh. Năm 1996, do ông H3 và bà P khó khăn, ông C kêu vợ chồng ông H3, bà P về ở cùng ông C, phụ làm gỗ với ông C. Việc cho ở nhờ này không có văn bản gì. Sau khi bà D1 chết năm 1995, các anh chị của ông C đồng ý để ông C thừa kế toàn bộ nhà, đất do bà D1 đứng tên. Ông C được Ủy ban nhân dân huyện B (nay là huyện B), tỉnh Bình Dương cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sổ 00799QSDĐ ngày 24 tháng 8 năm 1998. Năm 1998, ông C cho vợ chồng ông H3 và bà P xây nhà ở nhờ trên đất. Quá trình ở trên đất, ông H3 và bà P cơi nới, tu sửa, xây dựng thành hiện trạng như hiện nay mà Tòa án xem xét, thẩm định tại chỗ. Việc cơi nới, tu sửa, xây dựng ông H3 có hỏi ý kiến ông C và ông C đồng ý không có ý kiến gì vì nghĩ là cho vợ chồng cháu ở để làm ăn, sinh sống. Từ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào số 00799QSDĐ ngày 24 tháng 8 năm 1998, vào năm 2011 ông C làm thủ tục tách ra thêm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có số vào sổ CH00347 ngày 13 tháng 9 năm 2011 do Ủy ban nhân dân huyện B cấp cho ông Bùi Văn C, diện tích 303m² đất trồng cây lâu năm, thửa đất số 391, tờ bản đồ số 04, phần đất này chính là đất tranh chấp hiện nay. Khi đó ông H3 và bà P có biết và không có ý kiến gì.
Năm 2018, do bị mất Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có số vào sổ CH00347 nên ông C làm đơn có mất và ông C đã được cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có số vào sổ CS02431 ngày 09 tháng 4 năm 2019 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho ông C. Việc bà P vẫn giữ bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có số vào sổ CH00347 mà ông C đã làm đơn có mất, ông C không biết lý do vì sao. Phần đất tranh chấp ông C không chuyển nhượng, tặng cho hay thế chấp gì cho ai. Ông C vẫn giữ bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có số vào sổ CS02431 ngày 09 tháng 4 năm 2019 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho ông C.
Đối với phần đất vợ chồng ông C đang ở, năm 2016 ông C làm thủ tục cấp đổi sổ để cấp thêm 100m2 thổ cư theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất có số vào sổ CS01282 ngày 04 tháng 3 năm 2016 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho ông C, diện tích được cấp là 497,6m² (đất ở tại nông thôn 400m², đất trồng cây hàng năm khác 97,6m²), thuộc thửa đất số 80, tờ bản đồ số 17. Hiện nay, bà P khởi kiện yêu cầu ông C trả lại diện tích 303m² (đo đạc thực tế là 293,3m²) thuộc thửa đất số 391, tờ bản đồ số 04 (nay là thửa đất số 97, tờ bản đồ số 17), tọa lạc ấp C, xã H, huyện B, tỉnh Bình Dương thì ông C không đồng ý.
Ngày 14 tháng 01 năm 2022, ông Bùi Văn C có đơn phản tố. Ông C cho rằng ông được Nhà nước cấp giấy chứng nhận phần đất đang có tranh chấp là hợp pháp và đúng trình tự theo quy định của pháp luật. Cho nên, ông C yêu cầu bà Trần Thị Bích P và các con bà P di dời ra khỏi phần đất và chấm dứt hành vi
6
sử dụng trái phép phần đất diện tích 303m² (đo đạc thực tế là 293,3m²) thửa đất số 391, tờ bản đồ số 04 (nay là thửa đất số 97, tờ bản đồ số 17), tọa lạc ấp C, xã H, huyện B, tỉnh Bình Dương.
3. Tại Bản tự khai ngày 15 tháng 4 năm 2021, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cháu Bùi Đức T1 trình bày:
Cháu T1 là con của bà Trần Thị P, thống nhất với lời trình bày của bà P và không có đóng góp gì về tài sản trên đất.
4. Tại Bản tự khai ngày 08 tháng 4 năm 2021, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị Phượng H2 trình bày:
Bà H2 là con của bà Trần Thị P, thống nhất với lời trình bày của bà P và không có yêu cầu độc lập trong vụ án.
5. Tại Bản tự khai ngày 28 tháng 5 năm 2021, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Thu T trình bày:
Bà T là con của bà Trần Thị P, thống nhất với lời trình bày của bà P và không có yêu cầu độc lập trong vụ án.
6. Tại Bản tự khai ngày 16 tháng 6 năm 2021, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Mai Kim P1 trình bày:
Bà P1 là vợ của ông Bùi Văn C. Tài sản tranh chấp là đất thừa kế của ông C nên bà P1 không có liên quan gì. Bà P1 đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
7. Tại Bản tự khai ngày 26 tháng 12 năm 2022, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị Mỹ L trình bày:
Bà Đặng Thị Mỹ L và chồng là anh Nguyễn Ngọc D là người đang thuê nhà của bà P để buôn bán trái cây. Nay có tranh chấp quyền sử dụng đất giữa bà P và ông C bà L không có ý kiến gì.
8. Tại Công văn 4087/UBND-NC ngày 26 tháng 12 năm 2022, người đại diện hợp pháp của Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Bình Dương là ông Nguyễn Văn T2 trình bày:
Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Bình Dương không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu phản tố của bị đơn.
9. Tại Công văn số 2562/CNVPĐKĐĐ ngày 14 tháng 12 năm 2022, người đại diện hợp pháp của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B là ông Trần Trọng T3 trình bày:
Ông Bùi Văn C có đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 391, tờ bản đồ số 04, diện tích 303m² đất trồng cây lâu năm, nguồn gốc đất do cha mẹ cho năm 1985, được Ủy ban nhân dân xã H, huyện B, tỉnh Bình Dương xác nhận ngày 01 tháng 7 năm 2011. Đối chiếu danh mục tài liệu lưu trữ hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất và các quy định liên quan đến việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Chi nhánh
7
Văn phòng Đăng ký đất đai huyện B nhận thấy thành phần hồ sơ bảo đảm theo quy định. Việc kiểm tra, xác nhận nguồn gốc đất và thời điểm sử dụng đất, tình trạng tranh chấp sử dụng đất, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng đã được xét duyệt được Ủy ban nhân dân xã xác định rõ ràng và đã được cơ quan chuyên môn kiểm tra, hoàn thiện hồ sơ trình Ủy ban nhân dân huyện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BG 966878 ngày 13 tháng 9 năm 2011. Ngày 09 tháng 4 năm 2019, ông Bùi Văn C được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CO 958662 đối với thửa 391, tờ bản đồ số 04; nguồn gốc cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BG 966878 ngày 13 tháng 9 năm 2011 do mất giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Ngọc D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để lấy lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng vắng mặt không có lý do nên không ghi nhận được ý kiến.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 32/2023/DS-ST ngày 20 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương đã quyết định:
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Bích P đối với bị đơn ông Bùi Văn C về việc “Tranh chấp về quyền sử dụng đất'.
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn ông Bùi Văn C đối với nguyên đơn bà Trần Thị Bích P về việc “Tranh chấp về quyền sử dụng đất”.
2.1. Bà Trần Thị Bích P, bà Trần Thị Thu T, bà Bùi Thị Phượng H2 và cháu Bùi Đức T1 phải di dời ra khỏi phần đất, trả phần đất diện tích 303m² (đo đạc thực tế là 293,3m²) thuộc thửa đất số 391, tờ bản đồ số 04 (nay là thửa đất số 97, tờ bản đồ số 17), tọa lạc ấp C, xã H, huyện B, tỉnh Bình Dương cho ông Bùi Văn C.
2.2. Ông Bùi Văn C có trách nhiệm bồi hoàn cho bà Trần Thị Bích P, bà Trần Thị Thu T, bà Bùi Thị Phượng H2 và cháu Bùi Đức T1 số tiền 1.325.588.920 (một tỷ ba trăm hai mươi lăm triệu năm trăm tám mươi tám nghìn chín trăm hai mươi) đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, về án phí, về quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi có án sơ thẩm, ngày 27/9/2023 nguyên đơn bà Trần Thị Bích P có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản
8
án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.
Ngày 29/9/2023, bị đơn ông Bùi Văn C có đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm về phần tính công sức đóng góp, gìn giữ, tôn tạo đất của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án. Cụ thể như sau:
- Bà Trần Thị Bích P, bà Trần Thị Thu T, bà Bùi Thị Phượng H2 và cháu Bùi Đức T1 có trách nhiệm di dời tài sản và giao trả phần đất có diện tích đo đạc thực tế là 293,3m², thuộc thửa đất số 391, tờ bản đồ số 04 (nay là thửa đất số 97, tờ bản đồ số 17), tọa lạc ấp C, xã H, huyện B, tỉnh Bình Dương cho ông Bùi Văn C.
- Ông Bùi Văn C có trách nhiệm bồi hoàn cho bà Trần Thị Bích P, bà Trần Thị Thu T, bà Bùi Thị Phượng H2 và cháu Bùi Đức T1 số tiền 1.300.000.000 đồng (một tỷ ba trăm triệu đồng).
- Sau khi bồi hoàn xong số tiền trên, ông Bùi Văn C được quyền sở hữu các tài sản gắn liền trên phần đất có diện tích đo đạc thực tế là 293,3m² thuộc thửa đất số 391, tờ bản đồ số 04 (nay là thửa đất số 97, tờ bản đồ số 17), tọa lạc ấp C, xã H, huyện B, tỉnh Bình Dương gồm: 01 căn nhà cấp 04 có diện tích 48,3m²; nhà bếp có diện tích 18,06m²; 01 nhà vệ sinh + nhà tắm có diện tích 3,6m²; 01 bể chứa nước có kích thước dài 1,3m x rộng 1,0m x cao 0,73m có thể tích 0,95m³; 01 mái che có diện tích 54,81m²; 01 hầm chứa nước thải có diện tích 22,6m².
- Bà Trần Thị Bích P, bà Trần Thị Thu T, bà Bùi Thị Phượng H2 và cháu Bùi Đức T1 được quyền lưu cư trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn Luật sư Nguyễn Doãn H phát biểu quan điểm: Đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn Luật sư Hoàng Trọng Đ phát biểu quan điểm: Đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu quan điểm: Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của các đương sự là trong thời hạn quy định. Những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Do các bên đương sự đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án, nội dung thỏa thuận của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn, sửa một phần bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
9
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của các vị Luật sư và của Kiểm sát viên,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Thu T, người đại diện hợp pháp của cháu Bùi Đức T1 là bà Trần Thị Bích P, bà Bùi Thị Phượng H2, bà Mai Kim P1, bà Đặng Thị Mỹ L, người đại diện hợp pháp của Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Bình Dương là ông Nguyễn Văn T2 và người đại diện hợp pháp của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B là ông Trần Trọng T3 tất cả đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Ngọc D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia phiên tòa phúc thẩm nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự có tên trên.
[2] Về nội dung:
[2.1] Quá trình tố tụng các đương sự đều thống nhất thừa nhận phần đất có diện tích 303m² (đo đạc thực tế là 293,3m²) thuộc thửa đất số 391, tờ bản đồ số 04 (nay là thửa đất số 97, tờ bản đồ số 17), tọa lạc ấp C, xã H, huyện B, tỉnh Bình Dương có nguồn gốc của bà Nguyễn Thị D1. Khi bà D1 chết ông C làm thủ tục thừa kế phần đất diện tích 565,5m² và đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sổ 00799/QSDĐ ngày 24 tháng 8 năm 1998 do Ủy ban nhân dân huyện B (nay là huyện B) cấp cho ông C đứng tên. Năm 2011, ông C làm thủ tục tách ra hai thửa đất, một thửa là phần đất hiện nay đang tranh chấp và thửa đất còn lại hiện nay ông C đang quản lý, sử dụng. Vì vậy, đây là những tình tiết, sự kiện không cần phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2.2] Bà P là vợ của ông H3. Năm 2015, ông H3 chết, cha mẹ của ông H3 hiện nay cũng đã chết. Ông H3, bà P có 03 con chung là bà Trần Thị Thu T, bà Bùi Thị Phượng H2 và cháu Bùi Đức T1, sinh ngày 07 tháng 8 năm 2006. Như vậy, hàng thừa kế thứ nhất của ông H3 gồm bà P, bà T, bà H2 và cháu T1. Bà Trần Thị Bích P trình bày phần đất đang tranh chấp có nguồn gốc do bà D1 là bà ngoại của ông H3 (bà ngoại chồng) tặng cho vợ chồng ông H3 và bà P, việc tặng cho bằng miệng, không lập thành văn bản. Sau khi bà D1 chết, ông C tự lập thủ tục đăng ký để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất luôn cả phần đất mà bà D1 đã tặng cho vợ chồng ông H3, bà P. Do vậy, bà P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Công nhận cho bà P quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với phần đất có diện tích là 303m² (đo đạc thực tế là 293,3m²), thuộc thửa đất số 97, tờ bản đồ số 17, tọa lạc ấp C, xã H, huyện B, tỉnh Bình Dương; kiến nghị Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có số vào sổ CS02431 ngày 09 tháng 4 năm 2019 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho ông Bùi Văn C do cấp sai đối tượng.
10
[2.3] Bị đơn ông Bùi Văn C có đơn phản tố yêu cầu bà Trần Thị Bích P và các con bà P di dời ra khỏi phần đất và chấm dứt hành vi sử dụng trái phép phần đất có diện tích 303m² (đo đạc thực tế là 293,3m²) thuộc thửa đất số 391, tờ bản đồ số 04 (nay là thửa đất số 97, tờ bản đồ số 17), tọa lạc ấp C, xã H, huyện B, tỉnh Bình Dương. Ông C đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CO 958662 ngày 09/4/2019 (nguồn gốc là cấp lại do bị mất Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BG 966878 ngày 13 tháng 9 năm 2011).
[3] Nhận thấy: Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án. Cụ thể như sau:
- Bà Trần Thị Bích P, bà Trần Thị Thu T, bà Bùi Thị Phượng H2 và cháu Bùi Đức T1 có trách nhiệm di dời nhà và giao trả phần đất có diện tích đo đạc thực tế là 293,3m², thuộc thửa đất số 391, tờ bản đồ số 04 (nay là thửa đất số 97, tờ bản đồ số 17), tọa lạc ấp C, xã H, huyện B, tỉnh Bình Dương cho ông Bùi Văn C.
- Ông Bùi Văn C có trách nhiệm bồi hoàn cho bà Trần Thị Bích P, bà Trần Thị Thu T, bà Bùi Thị Phượng H2 và cháu Bùi Đức T1 số tiền 1.300.000.000 đồng (một tỷ ba trăm triệu đồng).
- Sau khi bồi hoàn xong số tiền trên, ông Bùi Văn C được quyền sở hữu các tài sản gắn liền trên phần đất có diện tích đo đạc thực tế là 293,3m² thuộc thửa đất số 391, tờ bản đồ số 04 (nay là thửa đất số 97, tờ bản đồ số 17), tọa lạc ấp C, xã H, huyện B, tỉnh Bình Dương gồm: 01 căn nhà cấp 04 có diện tích 48,3m²; nhà bếp có diện tích 18,06m²; 01 nhà vệ sinh + nhà tắm có diện tích 3,6m²; 01 bể chứa nước có kích thước dài 1,3m x rộng 1,0m x cao 0,73m có thể tích 0,95m³; 01 mái che có diện tích 54,81m²; 01 hầm chứa nước thải có diện tích 22,6m².
- Bà Trần Thị Bích P, bà Trần Thị Thu T, bà Bùi Thị Phượng H2 và cháu Bùi Đức T1 được quyền lưu cư trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn Luật sư Nguyễn Doãn H phát biểu quan điểm: Đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn Luật sư Hoàng Trọng Đ phát biểu quan điểm: Đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu quan điểm: Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của các đương sự là trong thời hạn quy định. Những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Do các bên đương sự đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án, nội dung thỏa thuận của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn, sửa một phần bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
11
[5] Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
[7] Về chi phí tố tụng: Các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
[8] Về án phí dân sự phúc thẩm: Các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 148, Điều 300, khoản 2 Điều 308, Điều 309 và Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ vào Điều 166 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 105 và Điều 166 của Luật Đất đai năm 2013.
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Trần Thị Bích P và kháng cáo của bị đơn ông Bùi Văn C.
- - VKSND tỉnh Bình Dương;
- - Chi cục THADS huyện Bàu Bàng;
- - TAND huyện Bàu Bàng;
- - Các đương sự;
- - Lưu: HCTP, HSVA, Tòa Dân sự.
Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 32/2023/DS-ST ngày 20 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương như sau:
1.1. Công nhận sự thỏa thuận của nguyên đơn bà Trần Thị Bích P đối với bị đơn ông Bùi Văn C về việc “Tranh chấp về quyền sử dụng đất”. Cụ thể như sau:
- Bà Trần Thị Bích P, bà Trần Thị Thu T, bà Bùi Thị Phượng H2 và cháu Bùi Đức T1 có trách nhiệm di dời tài sản để giao trả phần đất có diện tích đo đạc thực tế là 293,3m², thuộc thửa đất số 391, tờ bản đồ số 04 (nay là thửa đất số 97, tờ bản đồ số 17), tọa lạc ấp C, xã H, huyện B, tỉnh Bình Dương cho ông Bùi Văn C, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có số vào sổ CS02431 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B ngày 09 tháng 4 năm 2019 (có sơ đồ bản vẽ kèm theo).
- Ông Bùi Văn C có trách nhiệm bồi hoàn cho bà Trần Thị Bích P, bà Trần Thị Thu T, bà Bùi Thị Phượng H2 và anh Bùi Đức T1 số tiền 1.300.000.000 đồng (một tỷ ba trăm triệu đồng).
- Sau khi bồi hoàn xong số tiền trên, ông Bùi Văn C được quyền sở hữu các tài sản gắn liền trên phần đất có diện tích đo đạc thực tế là 293,3m² thuộc thửa đất số 391, tờ bản đồ số 04 (nay là thửa đất số 97, tờ bản đồ số 17), tọa lạc ấp C, xã H, huyện B, tỉnh Bình Dương gồm: 01 căn nhà cấp 04 có diện tích 48,3m²; nhà bếp có diện tích 18,06m²; 01 nhà vệ sinh + nhà tắm có diện tích
12
3,6m²; 01 bể chứa nước có kích thước dài 1,3m x rộng 1,0m x cao 0,73m có thể tích 0,95m³; 01 mái che có diện tích 54,81m²; 01 hầm chứa nước thải có diện tích 22,6m².
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
- Bà Trần Thị Bích P, bà Trần Thị Thu T, bà Bùi Thị Phượng H2 và cháu Bùi Đức T1 được quyền lưu cư trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án.
1.2. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá:
- Tổng chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tại cấp sơ thẩm là 14.807.950 đồng (mười bốn triệu không trăm tám mươi bảy nghìn chín trăm năm mươi đồng), nguyên đơn bà Trần Thị Bích P tự nguyện chịu, được trừ vào tiền tạm ứng đã nộp tại Tòa án cấp sơ thẩm.
- Tổng chi phí định giá tại cấp phúc thẩm là 3.000.000 đồng (ba triệu đồng), bị đơn ông Trần Văn C1 tự nguyên chịu, được trừ vào tiền tạm ứng đã nộp tại Tòa án cấp phúc thẩm.
1.3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà Trần Thị Bích P phải chịu số tiền là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp, hoàn trả cho bà Trần Thị Bích P2 số tiền 11.700.000 đồng (mười một triệu bảy trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí còn lại theo Biên lai thu tiền số AA/2016/0038764 ngày 03 tháng 4 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bàu Bàng tỉnh Bình Dương.
- Ông Bùi Văn C không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho ông Bùi Văn C số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số AA/2021/0009047 ngày 01 tháng 4 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.
3. Về án phí dân sự phúc thẩm:
- Bà Trần Thị Bích P phải chịu số tiền là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số AA/2016/0010420 ngày 04 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bàu Bàng tỉnh Bình Dương.
- Ông Bùi Văn C phải chịu số tiền 300.000 (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số AA/2021/10421 ngày 04 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
13
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận: |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Thanh Tuyền |
Bản án số 216/2024/DS-PT ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 216/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 22/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, sửa bản án st
