Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 216/2024/HS-ST.

Ngày: 11/12/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:Bà Lê Thị Tố Như
Thẩm phán:Ông Vũ Đại Long
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Bùi Thế Huệ
Ông Nguyễn Trọng Thúy
Bà Nguyễn Thị Mai Hoa

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Phạm Trí Đôn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Lương Văn Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 212/2024/TLST-HS ngày 29/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 225/QĐXXST-HS ngày 07/11/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Ngọc A - sinh ngày 22/3/2006 tại thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; CCCD số: [...]; Nơi ĐKHK và nơi cư trú hiện nay: Số nhà C L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Trình độ văn hóa: 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Quang T và bà Nguyễn Thị H; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ 2; Bị cáo chưa có vợ; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 11/4/2023 bị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa tuyên phạt 20 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách là 40 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm về tội: “Gây rối trật tự công cộng” theo bản án hình sự phúc thẩm số: 74/2023/HS-PT. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 03/4/2024 tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Hiện có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Anh Nguyễn Văn Đ - sinh năm 2000. Địa chỉ: Số nhà C L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa (có mặt).

* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Ngọc A: Luật sư Trịnh Văn B thuộc văn phòng luật sư Bùi Hữu N; Địa chỉ: Số D đường N, phường P, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa (có mặt).

1

* Người làm chứng:

  1. Bà Phùng Thị T1 - sinh năm 1954. Địa chỉ: Số nhà C L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa (có mặt).
  2. Chị Đỗ Thị H1 - sinh năm 1981. Địa chỉ: Thôn T, xã L, huyện N, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12h30 ngày 19/9/2023, anh Nguyễn Văn Đ đang ngồi trên giường ở nhà mình thì nhìn thấy Nguyễn Ngọc A (em họ Đ) ở cùng nhà với anh Đ đang ngồi uống nước ở bàn nên nhờ Ngọc A đi lấy điếu cày để hút thuốc lào và chai nước ở gần phía Ngọc A.Ngọc A không lấy giúp anh Đ, nghĩ Ngọc A tỏ thái độ không tôn trọng mình nên anh Đ bực tức cầm đĩa làm bằng sứ đang để trên giường ném về phía Ngọc A nhưng không trúng, sau đó chạy lại lấy chiếc điếu cày, cầm điểu bằng tay phải vụt một cái vào lưng của Ngọc A. Ngọc A tức giận chạy xuống bếp lấy 01 con dao, dạng dao gọt hoa quả, dài khoảng 25cm, cán dao bằng nhựa màu xanh đen kích thước dài 10cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng, đầu nhọn, kích thước lưỡi dao dài 13,5cm, phần rộng nhất của lưỡi dao 2,5 cm rồi chạy lại chỗ anh Đ đang đứng ở gần giường, đâm 01 (một) nhát vào vùng thành ngực trái ở khoảng liên sườn 8-9 anh Đ, anh Đ vung chiếc điếu cày đang cầm trên tay phải vụt một cái vào vai trái của Ngọc A, đồng thời lùi lại phía sau. Ngọc A tiếp tục lao lên đâm thêm một nhát trúng vào vùng cánh chậu trái của anh Đ rồi bỏ chạy, lúc này anh Đ chạy ra sân hô hoán rồi bị ngất do mất máu. Sau đó anh Đ được mọi người đưa đi cấp cứu tại bệnh viện Đ1

Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể lập hồi 11h50s ngày 20/9/2023, xác định trên thân thể Nguyễn Văn Đ có: 01 vết thương ở vùng thành ngực trái ở khoang liên sườn 8-9 dài 02 cm, bờ mép sắc gọn; 01 vết thương ở vùng cánh chậu trái, kích thước (1x2) bờ mép sắc gọn.

Kết quả xác định hiện trường:

Hiện trường là số nhà C L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa, được xây dựng trên thửa đất gồm nhiều hộ gia đình sinh sống. Cửa chính nhìn ra ngõ C L; phía Bắc tiếp giáp với đường L; phía Nam tiếp giáp với bãi đất trống; phía Đông tiếp giáp với khu dân cư.

Hiện trường chính xảy ra tại gian phía Nam số nhà C L.

Theo chiều Bắc Nam gian nhà được bố trí: Cửa ra vào, giường, kệ, bàn thờ.

Vị trí số (1) gần giường, cách tường phía Bắc 1,4m, cách tường phía đông 1,3m là vị trí Nguyễn Văn Đ bị thương tích.

Vị trí số (2) trên nền nhà cách tường phía bắc 2m, cách tường phía đông 2,2m là vị trí Nguyễn Ngọc A đứng khi thực hiện hành vi đâm anh Đ.

* Tại bản kết luận số 346/KLTTCT-PYTH ngày 25/3/2024 của Trung tâm P kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với Nguyễn Văn Đ tại thời điểm giám định là 33%.

2

* Tại bản kết luận số 107/KL VGTT-PYTH ngày 20/5/2024 của Trung tâm P kết luận:

Vật gây thương tích:

  • + Vết thương ở vùng thành ngực trái tại khoang liên sườn 8 - 9, bờ mép sắc gọn: Hướng tác động từ ngoài vào trong, từ trước ra sau theo chiều vuông góc từ vùng thành ngực trái khoang liên sườn 8-9 xuyên thấu da, cơ, mô mềm vào xương sườn gây mẻ xương sườn, đút cơ gian sườn, thủng phúc mạc xuyện vào mặt trước thân vị dạ dày kích thước 02 cm tạo thành vết thương xuyên thấu rách da, cơ, mô mềm ở vùng thành ngực trái tại khoang liên sườn 8-9, bờ mép sắc gọn.
  • + Vết thương ở vùng cánh chậu trái, bờ mép sắc gọn: Hướng tác động từ ngoài vào trong, từ trái sáng phải, từ trên xuống dưới từ vùng cánh chậu trái xuyên thấu da, cơ, mô mêm xuông vùng mặt trước ngoài gộc đùi trái gây đứt bán phần cơ thẳng đùi trái tạo thành vết thương xuyên thấu rách da, cơ, mô mềm ở vùng cánh chậu trái, bờ mép sắc gọn.

Hiện nay, chưa có văn bản nào hướng dẫn cụ thể về khái niệm vùng trọng yếu của cơ thể. Tuy nhiên có thể hiểu vùng trọng yếu của cơ thể là những vùng quan trọng, chủ yếu của cơ thể con người nếu bị tổn thương có thể quyết định việc tồn tại hoặc tử vong của con người. Căn cứ vào các tài liệu hồ sơ giám định do cơ quan trưng cầu cung cấp, cho phép Trung tâm P nhận định:

  • + Vùng thành ngực trái tại khoang liên sườn 8-9 và vùng cánh chậu trái: Có thể được coi là vùng trọng yếu của cơ thể.
  • + Vết thương vùng thành ngực trái tại khoang liên sườn 8-9 và vết thương vùng cánh chậu trái như đã ghi nhận tại hồ sơ giám định: Nếu không được cấp cứu kịp thời thì ảnh hưởng đến tính mạng của Nguyễn Văn Đ.

Tại bản kết luận giám định số 2919/KL-KTHS ngày 09/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Trên con dao do Nguyễn Ngọc A giao nộp có AND người. Do nồng độ ADN thấp nên không xác định được kiểu gen.

Vật chứng vụ án:

Ngày 20/9/2023, Nguyễn Ngọc A giao nộp 01 con dao dạng dao gọt hoa quả, dài khoảng 25cm, cán dao bằng nhựa màu xanh đen kích thước dài 10cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng, đầu nhọn, kích thước lưỡi dao dài 13,5cm, phần rộng nhất của lưỡi dao 2,5cm. Hiện đang được tạm giữ tại kho vật chứng Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T, sẽ được chuyển đến Cục thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa chờ giải quyết theo luật định.

* Về dân sự: Bị cáo Nguyễn Ngọc A đã tác động đến gia đình tự nguyện thỏa thuận bồi thường xong cho bị hại anh Nguyễn Văn Đ, bị hại Đ không còn yêu cầu gì thêm và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Nguyễn Ngọc A.

3

Cáo trạng số: 109/CT-VKS-P2 ngày 28/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Nguyễn Ngọc A về tội “Giết người” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Đề nghị HĐXX: Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 57; Điều 101; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc A từ 05 (năm) năm tù đến 06 (sáu) năm tù về tội “Giết người”; Áp dụng Khoản 5 Điều 65; Khoản 2 Điều 56; Điều 104 Bộ luật Hình sự, tổng hợp 20 (hai mươi) tháng tù tại bản án hình sự phúc thẩm số 74/2023/HS-PT của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án, thời hạn tù tính từ ngày 03/4/2024.

Đề nghị HĐXX xử lý vật chứng và án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Ngọc A có quan điểm: Nhất trí về tội danh và khung hình phạt như Viện kiểm sát truy tố. Đề nghị HĐXX xem xét về nguyên nhân, điều kiện phạm tội của bị cáo, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ TNHS để xử dưới khung hình phạt cho bị cáo.

Lời nói sau cùng, bị cáo nhận tội, không tranh luận, xin được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật, cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về đoàn tụ với gia đình.

Bị hại đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo mức án thấp nhất.

Sau khi thẩm tra các chứng cứ có trong hồ sơ, nghe lời khai của bị cáo, quan điểm của người bào chữa cho bị cáo, ý kiến của bị hại, lời khai của người làm chứng, ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên, VKSND tỉnh Thanh Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại Cơ quan Điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng, kết

4

luận giám định, các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 19/9/2023, tại số nhà C L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Xuất phát việc Nguyễn Văn Đ nhờ Nguyễn Ngọc A lấy điểu cày để hút thuốc lào nhưng Ngọc A không lấy. Nghĩ là Ngọc A không tôn trọng mình nên Đ đã cầm đĩa ném về phía Ngọc A nhưng không trúng, Đ tiếp tục dùng tay phải cầm điếu cày đập một cái vào lưng Ngọc A. Bực tứức vì bị đánh nên Ngọc A dùng 01 con dao, dạng dao gọt hoa quả đâm 01 nhát vào vùng thành ngực trái ở khoang liên sườn 8-9 và 01 nhát vào vùng cánh chậu trái của anh Đ làm anh Đ bị tổn hại 33% sức khỏe.

Hành vi của Nguyễn Ngọc A đã phạm tội “Giết người”, quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự, thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt. Vì vậy, Cáo trạng số: 109/CT-VKS-P2 ngày 28/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Tính chất vụ án: Đây là vụ án có tính chất nghiêm trọng, chỉ vì bức xúc do cách ứng xử trong cuộc sống, khi thấy anh Đ ném đĩa sứ về phía mình và cầm điếu cày vụt mình nên bị cáo đã sử dụng dao gọt hoa quả là hung khí nguy hiểm để đâm vào sườn và cánh chậu trái là vùng trọng yếu của cơ thể, bị hại không chết là do được đi cấp cứu kịp thời nhưng bị tổn hại 33% sức khỏe. Do anh Nguyễn Văn Đ không chết nên bị cáo Nguyễn Ngọc A phạm tội thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt theo quy định tại Điều 15; Điều 57 của Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, bị cáo đã sử dụng vũ khí nguy hiểm xâm phạm trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe của người khác, phạm tội có tính chất côn đồ gây mất trật tự tình hình an ninh, chính trị địa phương. Ngoài ra bị cáo Nguyễn Ngọc A từng bị xử phạt về tội “Gây rối trật tự công cộng” nhưng không lấy đó làm bài học, không biết ăn năn hối cải và còn gây ra vụ án đặc biệt nghiêm trọng hơn nên cần phải xử phạt nghiêm việc cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian là cần thiết để làm bài học giáo dục răn đe và phòng ngừa chung.

[4]. Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Mặc dù bị cáo Nguyễn Ngọc A phạm tội mới trong thời gian thử thách, tuy nhiên Bản án phúc thẩm số 74/2023/HS-PT ngày 11/4/2023, bị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa tuyên phạt 20 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng” là thời điểm bị cáo đủ 16 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 107 Bộ luật Hình sự được coi là không có án tích. Do bị cáo Nguyễn Ngọc A phạm tội mới trong thời gian thử thách nên căn cứ khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự, 20 tháng tù cho hưởng án treo sẽ chuyển thành án giam và căn cứ Điều 56; Điều 104 Bộ luật Hình sự để tổng hợp với bản án mới buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra vụ án cũng như tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Ngọc A thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo đã tác động đến gia đình tự nguyện thỏa thuận và bồi thường xong cho bị hại; Bị hại có đơn xin giảm

5

nhẹ hình phạt cho bị cáo; Trong vụ án này bị hại cũng có lỗi đối với bị cáo; Bị cáo có ông, bà nội là người có công với nước. Do đó bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

[5]. Trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Ngọc A đã tác động đến gia đình tự nguyện thỏa thuận bồi thường xong cho bị hại anh Nguyễn Văn Đ, bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Anh Đ không còn yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6]. Liên quan đến vụ án:

Đối với hành vi của anh Nguyễn Văn Đ dùng điếu cày đánh Nguyễn Ngọc A nhưng theo biên bản xem xét dấu vết trên thân thể ngày 20/9/2023 xác định trên thân thể Ngọc A không có thương tích, dấu vết gì, do đó không có căn cứ xử lý hình sự đối với Nguyễn Văn Đ.

[7]. Về xử lý vật chứng:

- 01 con dao dạng dao gọt hoa quả theo biên bản giao nhận vật chứng 23/2025/TV-CTHADS ngày 22/11/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa, hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa là công cụ phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

[8]. Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân được quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

[9]. Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Ngọc A phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

* Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc A phạm tội “Giết người”.

* Căn cứ: Điểm n khoản 1 Điều 123; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Các Điều 15; điều 57; Khoản 2 Điều 56; Các Điều 101; điều 38; Khoản 5 Điều 65; Khoản 2 Điều 56; Điều 104; Điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 136; Các Điều 331; 333; 336; 337 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của UBTV Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

* Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc A 05 (năm) năm tù về tội “Giết người”. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt 20 (hai mươi) tháng tù tại bản án hình sự phúc thẩm số 74/2023/HS-PT ngày 11/4/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa. Tổng hợp hình phạt chung của cả hai bản án là 06 (sáu) năm 08 (tám) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/4/2024.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy vật chứng là công cụ phạm tội là 01 con dao gọt hoa quả.

6

(Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng số 23/2025/TV-CTHADS ngày 22/11/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa).

* Về án phí: Bị cáo Nguyễn Ngọc A phải nộp 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

* Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao tại HN;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hoá;
  • - Công an tỉnh Thanh Hoá;
  • - Cục thi hành án DS tỉnh Thanh Hoá;
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Lưu hồ sơ vụ án

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

(Đã ký)

Lê Thị Tố Như

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 216/2024/HS-ST ngày 11/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ về hình sự sơ thẩm về tội "giết người"

  • Số bản án: 216/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội "Giết người"
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giết người
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger