|
TÒA ÁN NHÂN DÂN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 216/2024/HSPT
Ngày 27/11/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trung Thông.
Các Thẩm phán: Bà Hoàng Thị Hải Hường
Ông Nguyễn Hà Giang
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Như Ý – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 27/11/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 202/TLPT-HS ngày 01 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Thị K, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 60/2024/HSST ngày 14/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Thị K, sinh năm 1974 tại xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tên gọi khác: Không. Nơi ĐKHKTT: Thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang; chỗ ở hiện nay: Thôn V, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 5/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn thể: không; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1940 (đã chết); con bà Đỗ Thị L, sinh năm 1949; chồng: Đoàn Văn S, sinh năm 1974; bị cáo có 02, con lớn sinh năm 1994, con nhỏ sinh năm 1997; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/12/2023 đến ngày 04/5/2024 được áp dụng biện pháp bảo lĩnh, hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra trong vụ án còn có một bị cáo khác và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 15 giờ 15 phút ngày 11/12/2023, tại nhà riêng của vợ chồng Đoàn Văn S và Nguyễn Thị K, cùng sinh năm 1974 ở cùng địa chỉ thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang (sau xác định tại thôn V, xã Đ, huyện L), Tổ công tác của Phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh B phối hợp với Công an huyện L, Công an xã Đ, huyện L kiểm tra phát hiện Đoàn Văn S và Nguyễn Thị K đang thực hiện hành vi giao bán cho khách hàng 40 cuộn bọc nilon màu trắng, được đựng trong 02 bao tải dứa màu đen nghi pháo nổ cho một người đàn ông không biết rõ tên tuổi, địa chỉ; lợi dụng sơ hở người đàn ông đã bỏ trốn.
Vật chứng thu giữ:
- 40 (bốn mươi) vật có hình khối tròn được bọc ngoài bởi túi nilon màu trắng được chứa trong 02 (hai) bao tải dứa; bên trong các vật này có chứa các vật nhỏ hình trụ tròn, có gắn dây ngòi, được liên kết với nhau thành hình khối tròn nghi là pháo nổ được niêm phong theo quy định.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu trắng kèm theo 01 (một) sim điện thoại và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu PRODUCT, màu đỏ kèm theo 01 (một) sim điện thoại được niêm phong theo quy định.
- 01 (một) xe mô tô biển số 98M1-5435.
- 01 (một) Căn cước công dân mang tên Đoàn Văn S và 01 (một) Căn cước công dân mang tên Nguyễn Thị K (45- 48).
Cùng ngày 11/12/2023 và ngày 12/12/2023 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Thị K và Đoàn Văn S (địa chỉ nêu trên) và khám xét khẩn cấp nơi ở của Đoàn Thị X, sinh năm 1981, trú tại thôn Đ, xã T, huyện L. Kết quả khám xét nơi ở của K, Suốt không phát hiện, thu giữ, tạm giữ đồ vật gì. Khám xét nơi ở của Xen thu giữ 01 (một) túi nilon màu đen, bên trong túi nilon chứa 12 vật hình trụ tròn, màu đỏ nghi là pháo nổ được niêm phong theo quy định.
Ngày 02/3/2024, Đoàn Văn S giao nộp 01 (một) Giấy đăng ký xe mô tô biển số 98M1- 5435, số máy: 037955; số khung: 037955 để phục vụ công tác điều tra.
Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B đã trưng cầu giám định số vật chứng thu giữ. Tại Bản kết luận giám định số 2471/KL-KTHS ngày 18/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B, kết luận:
- Trong 01 (một) thùng bìa cát tông được dán kín bằng các giấy niêm phong đề ngày 11/12/2023 gửi giám định: 40 (Bốn mươi) khối, bên ngoài mỗi khối được bọc nilon màu trắng, bên trong mỗi khối gồm các vật hình trụ được quấn bằng giấy màu đỏ, hai đầu được bịt kín, trong đó một đầu có gắn dây ngòi, được liên kết với nhau (được đựng trong 02 (hai) bao tải dứa màu đen) đều là pháo nổ, có tổng khối lượng 50,4kg.
- Trong 01 (một) thùng bìa cát tông được dán kín bằng các giấy niêm phong đề ngày 12/12/2023 gửi giám định: 12 (Mười hai) vật hình trụ được quấn bằng giấy màu đỏ, hai đầu được bịt kín, trong đó một đầu gắn dây ngòi đều là pháo nổ, có tổng khối lượng 0,2kg.
Quá trình điều tra các bị can khai nhận như sau
Bị can Nguyễn Thị K khai: K có mở quán bán hàng tạp hóa nên có người hỏi mua pháo thì K nhận lời, khoảng đầu tháng 12/2023 người đàn ông trước đó đã 02 (hai) lần mua pháo nổ tại nhà K ở thôn V, xã Đ, huyện L tiếp tục hỏi mua 40 (bốn mươi) cuộn pháo nổ, hai bên thỏa thuận giá 630.000 đồng/01 cuộn pháo nổ và hẹn lấy pháo tại nhà K vào ngày 11/12/2023. Sau đó K liên lạc qua Messenger với Đoàn Thị X để đặt số lượng 40 cuộn pháo nổ khách đã đặt nêu trên. Đến ngày 11/12/2023, K liên lạc qua M với X thì được biết số pháo nổ trên đã được để tại vườn táo của gia đình K tại thôn Đ, xã Đ. Khi khách đặt pháo đến lấy thì K bảo S đi chở pháo về bán cho khách, khi S chở pháo về đến nhà ở thôn V, xã Đ chưa kịp giao thì bị Công an bắt quả tang, còn khách mua pháo thì không thấy đâu. Đây là lần thứ ba K liên hệ với X để mua pháo bán lại cho khách hàng để kiếm lời, K mua của X là 580.000 đồng/01 cuộn pháo, bán lại cho người mua là 630.000 đồng/01 cuộn. Trước đó, K có nói cho S biết về việc mua pháo của X, giá từng lần mua và bán. Suốt là người cho người đàn ông không quen biết số điện thoại của K để giao dịch mua pháo; toàn bộ các giao dịch mua bán, thỏa thuận giá cả đều do K thực hiện với X và với khách hàng, S chỉ là người đi xe máy đến vườn táo của gia đình để mang pháo về nhà cho K bán.
Bị can Đoàn Văn S khai: Khoảng tháng 9/2023, có người đến cửa hàng hỏi mua pháo nổ thì S có cho số điện thoại của K để liên lạc. Trong tháng 9/2023 và tháng 11/2023, S được K bảo chở pháo nổ (không biết số lượng bao nhiêu) từ vườn táo về bán cho khách mua. Chiều 11/12/2023, có người mua pháo nổ thì K tiếp tục bảo S ra vườn táo của gia đình chở 40 cuộn bọc nilon màu trắng, được đựng trong 02 bao tải dứa màu đen là pháo nổ về nhà để giao bán cho khách, khi đang chờ bán cho khách thì bị Công an bắt quả tang thu giữ tang vật. Toàn bộ các giao dịch mua bán, thỏa thuận giá cả đều do K thực hiện. K có cho S biết về việc mua pháo thông qua X và giá mua, giá bán từng lần.
Ngày 03/02/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện L cho Nguyễn Văn S1 chỉ vị trí lấy pháo nổ và vị trí bị bắt quả tang. Kết quả Suốt xác định vị trí để pháo nổ tại vườn táo của gia đình tại thôn Đ, xã Đ, huyện L và vị trí bị bắt quả tang tại khu vực nhà xát gạo của gia đình tại thôn V, xã Đ, huyện L.
Đối với người đàn ông sử dụng số điện thoại 0326.412.xxx giao dịch mua bán pháo với K vào tháng 9, 11/2023 và ngày 11/12/2023. Quá trình điều tra xác định chủ thuê bao số 0326.412.066 là anh Lương Đình T1, sinh năm 1977, trú tại Khu A, xã B, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Xác minh tại nơi ở thì Lương Đình T1 không có mặt tại địa phương, nên chưa làm việc được do đó chưa có căn cứ để truy tìm đối tượng này.
Đối với Đoàn Thị X là người tàng trữ 0,2kg pháo nổ tại nơi ở mục đích để sử dụng và bị can K khai X là người bán pháo nổ cho K (03 lần). Quá trình điều tra xác định X chưa có tiền án, tiền sự về các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, do đó hành vi không cấu thành tội “Tàng trữ hàng cấm” quy định tại Điều 191 Bộ luật hình sự. Xen không thừa nhận hành vi bán pháo nổ cho K, Cơ quan CSĐT Công an huyện L đã tiến hành cho Nguyễn Thị K đối chất với Đoàn Thị X, kết quả hai bên giữ nguyên lời khai của mình, ngoài lời khai của K thì không còn chứng cứ nào khác chứng Minh Xen bán pháo nổ cho K, do đó Cơ quan CSĐT Công an huyện L không đề cập xử lý là có căn cứ. Ngày 17/4/2024, Công an huyện L đã có Công văn đề nghị Chủ tịch UBND huyện L xử phạt vi phạm hành chính đối với X về hành vi tàng trữ trái phép pháo nổ.
Đối với Nguyễn Thị K, Đoàn Văn S khai ngoài lần bán pháo nổ ngày 11/12/2023, thì trước đó vào tháng 9/2023 có bán 03 (ba) cuộn pháo nổ; tháng 11/2023 bán 06 (sáu) quận pháo nổ cho người đàn ông mua pháo ngày 11/12/2023. Tuy nhiên quá trình điều tra không xác định trọng lượng pháo nổ của các lần mua bán trên, không xác định được người mua nên Cơ quan CSĐT Công an huyện L không đề cập xử lý đối với K, S và người mua pháo nổ là có căn cứ.
- Vật chứng thu giữ và việc xử lý: Đối với 01 (một) thùng bìa cát tông bên trong chứa 42,8kg pháo nổ và 01 (một) thùng bìa cát tông bên trong chứa vỏ bao gói mẫu được hoàn lại sau giám định; 01 (một) xe máy biển số 98M1-5435, số máy: 037955; số khung: 037955; 01 (một) Giấy đăng ký xe mô tô biển số 98M1-5435; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu trắng kèm theo 01 (một) sim điện thoại số 0357.539.xxx và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu PRODUCT, màu đỏ kèm theo 01 (một) sim điện thoại số 0763.368.xxx được niêm phong; 01 (một) Căn cước công dân mang tên Đoàn Văn S và 01 (một) Căn cước công dân mang tên Nguyễn Thị K, hiện đang được Cơ quan CSĐT Công an huyện L bảo quản để xử lý theo quy định.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Thị K và Đoàn Văn S thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2022/HSST ngày 14/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang đã quyết định:
Căn cứ điểm g khoản 2, khoản 4 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị K. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị K 05 (năm) năm tù về tội “Buôn bán hàng cấm”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, nhưng được trừ thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/12/2023 đến ngày 04/5/2024.
Phạt bổ sung bị cáo K 20.000.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước.
Ngoài ra bản án còn tuyên xử phạt các bị cáo khác, tuyên xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 21/6/2024 bị cáo Nguyễn Thị K kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo Nguyễn Thị K giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo và trình bày: Án sơ thẩm xử bị cáo về tội buôn bán hàng cấm là đúng, không oan, hành vi của bị cáo như án sơ thẩm xác định là đúng. Tuy nhiên khi biết mình phạm tội bị cáo đã chủ động ra đầu thú, hiện nay bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, bị cáo đã nộp tiền phạt và án phí sơ thẩm. Ngoài ra khoảng tháng 03/10/2024 bị cáo có phối hợp, cung cấp thông tin chính xác về 02 đối tượng có biểu hiện tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy “đá” tại phòng trọ số B H, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng cho Công an Phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng. Do đó, đề nghị HĐXX cho bị cáo giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Án sơ thẩm xử bị cáo K là đúng người đúng tội và không oan. Cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ xử phạt bị cáo K 05 năm tù là đã cho bị cáo hưởng sự khoan hồng của pháp luật. Tuy nhiên sau khi phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tại cấp phúc thẩm xuất trình biên lai nộp phạt, án phí nên đã thể hiện sự ăn năn hối cải của bị cáo. Ngoài ra, bị cáo còn được quận H, thành phố Hải Phòng xác nhận việc có thành tích trong phòng ngừa tội phạm nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ mới tại điểm t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Do đó, có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ và hưởng án treo của bị cáo. Đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo K với mức 03 năm tù và cho bị cáo hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của các bị cáo được làm trong thời hạn kháng cáo theo đúng quy định tại Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự nên xác định là đơn kháng cáo hợp pháp, được chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét nội dung kháng cáo của bị cáo thấy:
[2.1] Về tội danh: Ngày 11/12/2023, tại nơi ở của Nguyễn Thị K và Đoàn Văn S có địa chỉ tại thôn V, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh B phối hợp cùng Công an huyện L, Công an xã Đ, huyện L bắt quả tang Nguyễn Thị K, Đoàn Văn S đang có hành vi bán 40 cuộn pháo nổ có tổng khối lượng 50,4kg cho một người đàn ông không biết tên tuổi, địa chỉ ở đâu với mục đích hưởng lợi nhuận, khi hai bên chưa kịp giao pháo, tiền cho nhau thì bị phát hiện bắt giữ, đối tượng mua pháo lợi dụng sơ hỏ bỏ trốn.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Các lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với thời gian, địa điểm và vật chứng đã được thu giữ, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Do đó, Bản án hình sự sơ thẩm số 60/2024/HSST ngày 14/6/2024 xét xử đối với bị cáo Nguyễn Thị K về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm g khoản 2 Điều 190 là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2.2] Về hình phạt, Hội đồng xét xử thấy. Bị cáo là người có nhân thân tốt, phạm tội lần đâu, thành khẩn khai báo. Quá trình làm việc với cơ quan điều tra, xét xử tỏ ra ăn năn hối cải, tại cấp phúc thẩm thể hiện qua việc chủ động nộp nộp án phí và tiền phạt. Ngoài ra, tại cấp phúc thẩm Tòa án nhận được xác nhận về việc có thành tích trong phòng chống tội phạm của bị cáo Nguyễn Thị K do Công an quận H, thành phố Hải Phòng cung cấp. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang đã tiến hành xác minh sự việc tại Công an quận H, thành phố Hải Phòng. Kết quả được Công an quận H, thành phố Hải Phòng xác nhận Nguyễn Thị K đã phối hợp, cung cấp thông tin cho Công an huyện L phát hiện bắt giữ, khởi tố vụ án, khởi tố bị can một vụ án “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ mới tại điểm u khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo còn được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xét thấy bị cáo có nhận thân tốt, phạm tội lần đầu, có nơi ở, cư trú rõ ràng. Vì vậy, để đảm bảo sự khoan hồng của pháp luật, Hội đồng xét xử xét thấy cần giảm hình phạt cho bị cáo và không cần thiết phải áp dụng biện pháp cách ly bị cáo ra khỏi xã hội để giáo dục mà chỉ cần giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân nơi bị cáo sinh sống giáo dục bị cáo cũng có thể trở thành công dân tốt. Do đó, HĐXX chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo của bị cáo theo như đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp và đúng quy định pháp luật.
[2.3] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không kháng cáo, nên Hội đồng xét xử không xem xét không đặt ra xem xét.
[3] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị K được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị K, sửa bản án sơ thẩm.
- Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 190; điểm s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 2 Điều 54 ; Điều 65; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị K 03 (ba) năm tù về tội “Buôn bán hàng cấm”, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Thị K cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội. Bị cáo Nguyễn Thị K không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Xác nhận bị cáo Nguyễn Thị K đã nộp 25.600.0000 đồng theo biên lai thu tiền số 0003165 ngày 19/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trung Thông |
Bản án số 216/2024/HSPT ngày 27/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về hình sự phúc thẩm về tội buôn bán hàng cấm
- Số bản án: 216/2024/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Buôn bán hàng cấm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị K phạm tội Buôn bán hàng cấm
