TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG Bản án số: 216/2024/HNGĐ-ST Ngày: 31/10/2024 V/v không công nhận quan hệ vợ chồng. | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Xuyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung;
- Ông Võ Thành Tâm.
Thư ký phiên tòa: Ông Đào Công Minh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang: Không tham gia phiên tòa.
Trong ngày 31 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 322/2024/TLST-HNGĐ ngày 02/10/2024 về việc: “Xin ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 185/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17/10/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim C, sinh năm 1970
Địa chỉ: Tổ D, ấp H, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang. Số điện thoại: 0392.011.xxx
- Bị đơn: Anh Nguyễn An H, sinh năm 1970
Địa chỉ: Ấp M, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang. Số điện thoại: 0989.226.xxx
(Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim C trình bày: Tôi với anh Nguyễn An H chung sống với nhau từ năm 1988 có tổ chức lễ cưới nhưng không có đăng ký kết hôn do không am hiểu pháp luật. Sau khi cưới vợ chồng chung sống tại ấp H, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang (hộ khẩu của anh H cũng ở H, Đ sau này anh H mới chuyển khẩu về M, Định M). Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc và có 01 con chung tên Nguyễn Thanh Đ, sinh năm 1990 (tôi tự đi làm giấy khai sinh cho cháu Đ nên mới có sai sót chữ lót tên anh H trong giấy khai sinh con). Nhưng sau khoảng vài năm chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do tính tình không hợp, vợ chồng không có tiếng nói chung, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2008. Nhận thấy, cuộc sống hôn nhân không thể hàn gắn và kéo dài nên tôi đồng ý ly hôn với anh H.
- Về quan hệ con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Thanh Đ, sinh năm 1990, con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
Théo ý kiến tại tờ tự khai và lời khai trong suốt quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn An H trình bày: Anh H thống nhất với trình bày của chị C về quá trình chung sống, về con chung và về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn. Anh H thừa nhận vợ chồng đã ly thân từ năm 2008 cho đến nay. Nhận thấy, cuộc sống hôn nhân không thể hàn gắn và kéo dài nên anh đồng ý ly hôn với chị C.
Về quan hệ con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Thanh Đ, sinh năm 1990, con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim C và bị đơn anh Nguyễn An H vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị Kim C khởi kiện ly hôn đối với anh Nguyễn An H, tuy nhiên chị C trình bày vợ chồng chung sống không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên đây là tranh chấp Hôn nhân và gia đình về việc không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 7 Điều 28 của Bộ Luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Nguyễn An H có đăng ký hộ khẩu thường trú tại huyện T, tỉnh An Giang. Theo quy định tại Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn. Tại phiên tòa nguyên đơn chị C và bị đơn anh H vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy, HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Qua các tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp cũng như lời trình bày của bị đơn có căn cứ xác định chị C và anh H chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1988 có tổ chức lễ cưới nhưng không đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống như vợ chồng, anh chị thường xuyên cự cãi nguyên nhân do tính tình không hợp, vợ chồng đã cho nhau nhiều cơ hội sửa đổi nhưng không được, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc thể hiện bằng việc anh chị đã sống ly thân từ năm 2008 cho đến nay. Xét thấy, chị C và anh H là những người có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật đã chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, nên không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng, quan hệ của chị C và anh H không được pháp luật công nhận là vợ chồng. Căn cứ theo quy định tại Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và tinh thần hướng dẫn tại điểm b khoản 2 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/01/2001 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 35/2020/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị C mà giải quyết không công nhận chị C và anh H là vợ chồng.
[2.2] Về con chung: Qua chứng cứ chị C cung cấp, lời khai của bị đơn anh H thì anh chị có 01 con chung tên Nguyễn Thanh Đ, sinh năm 1990. Nhận thấy hiện nay con chung đã thành niên và không thuộc trường hợp mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động hoặc không có tài sản để tự nuôi mình và các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Chị C, anh H trình bày không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị C là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.
[4] Các đương sự được kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 7 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, khoản 1 Điều 14, Điều 15, khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Tuyên bố không công nhận chị Nguyễn Thị Kim C và anh Nguyễn An H là vợ chồng.
- Về quan hệ con chung: Con chung tên Nguyễn Thanh Đ, sinh năm 1990 hiện nay đã thành niên và không thuộc trường hợp mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động hoặc không có tài sản để tự nuôi mình và các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Kim C trình bày không có, không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Tuy nhiên, sau khi bản án này có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì chị Nguyễn Thị Kim C và anh Nguyễn An H phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
- Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Kim C phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0011508 ngày 02/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Như vậy, chị C đã thực hiện xong nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm. Anh Nguyễn An H không phải chịu án phí.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án theo quy định của pháp luật để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Cẩm Xuyên |
Bản án số 216/2024/HNGĐ-ST ngày 31/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về không công nhận quan hệ vợ chồng
- Số bản án: 216/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Không công nhận quan hệ vợ chồng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/10/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: không công nhận quan hệ vc
