TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 216/2024/HS-ST Ngày: 23-9-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lương Thị Kim Huế
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Anh Tuấn
Ông Ngô Kim Thành
Thư ký phiên toà: Ông Chu Trần Khánh Vinh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Ngô Đức Sang - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 219/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 219/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Thị H; sinh ngày 10 tháng 8 năm 1969; nơi sinh tỉnh Nam Định; nơi thường trú: Số nhà D B2 Ô, phường Q, thành phố N, tỉnh Nam Định (địa chỉ cũ: Số nhà D Ô, phường H, thành phố N, tỉnh Nam Định); chỗ ở hiện nay: Ngõ A đường N, phường M, thành phố N, tỉnh Nam Định; Số căn cước công dân: [...]; giới tính nữ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 01/10; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trần Đình K (đã chết) và bà Trần Thị T (đã chết); gia đình có tám anh em, bị cáo là thứ tám; chồng: Trịnh Văn C; có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 04-8-2009, Tòa án nhân dân huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định xử phạt 36 tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma túy; Ngày 27-02-2017, Công an phường L, thành phố N xử phạt vi phạm hành chính hình thức cảnh cáo về hành vi đánh bạc.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22-6-2024, chuyển tạm giam từ ngày 01-7-2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng: Ông Trần Minh T1 và chị Nguyễn Hải L (không triệu tập đến phiên toà).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 40 phút ngày 22-6-2024, Tổ công tác Công an phường N, thành phố N làm nhiệm vụ tại khu vực ngã tư Quốc lộ A - đường T, phường L, thành phố N phát hiện Trần Thị H điều khiển xe máy biển kiểm soát 18F4-0100 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra, thu giữ trong tay trái của H 01 gói giấy màu trắng, bên trong có 01 túi nilông màu trắng kích thước khoảng (4x5)cm, trong chứa chất bột dạng cục màu trắng (H khai là H1 mua về để sử dụng). Tổ công tác niêm phong vật chứng và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trần Thị H. Ngoài ra tạm giữ của H 01chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 18F4-0100 và 01 điện thoại di động màu đen mặt trước có chữ N, đều đã cũ.
Bản kết luận giám định số 1187/KL-KTHS ngày 27-6-2024 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 01 túi ni lông màu trắng kích thước khoảng (4x5)cm (được gói trong 01 gói giấy màu trắng), được niêm phong gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Heroine. Khối lượng mẫu 1,643 gam.
Tại Cơ quan điều tra, Trần Thị H khai nhận: Khoảng 12 giờ 20 phút ngày 22-6-2024, H điều khiển xe máy biển kiểm soát 18F4-0100 đi từ nhà đến khu vực ngã ba đường T - đường T, xã M, huyện M, tỉnh Nam Định gặp một người đàn ông (không rõ lai lịch, địa chỉ) mua 01 gói ma túy với giá 1.000.000 đồng cầm trên tay trái điều khiển xe máy đi tìm chỗ sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ.
Bản Cáo trạng số 225/CT-VKSND-TPNĐ ngày 10-9-2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố Trần Thị H tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Thị H đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân như bản cáo trạng đã nêu.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Trần Thị H tại phiên tòa thể hiện hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Thị H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt chính: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Trần Thị H từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- + Tịch thu tiêu hủy số ma túy trong 01 phong bì niêm phong số 1187/KL-KTHS.
- + Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu nokia là tài sản của Trần Thị H. Chiếc xe máy biển kiểm soát 18F4-0100 đăng ký xe mang tên Lê Văn O, sinh năm 1962, địa chỉ thôn Y, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội nhưng đã được bán lại cho bị cáo Trần Thị H nên là tài sản của bị cáo Trần Thị H, đề nghị Hội đồng xét xử trả lại bị cáo Trần Thị H nhưng cho tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Bị cáo Trần Thị H nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Thị H không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Thị H trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 22-6-2024; Biên bản thu giữ vật chứng ngày 22-6-2024; Bản kết luận giám định số 1187/KL-KTHS ngày 10-9-2024 của Phòng K1 Công an tỉnh N; lời khai của những người làm chứng cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên đã có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 12 giờ 40 phút ngày 22-6-2024, tại khu vực ngã tư Quốc lộ A - đường T, phường L, thành phố N, bị cáo Trần Thị H đã có hành vi tàng trữ trái phép 1,643 gam heroine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội, khối lượng Heroine bị cáo tàng trữ mục đích để sử dụng là 1,643 gam (một phẩy sáu trăm bốn mươi ba gam) nên đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Thị H đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình, bị cáo có anh trai là liệt sỹ nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Bị cáo Trần Thị H không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Về hình phạt:
Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Thị H là nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đối với an ninh trật tự trên địa bàn thành phố N. Bản thân bị cáo có nhân thân xấu đã bị Tòa án nhân dân huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định xử phạt 36 tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma túy, tuy nhiên, bị cáo lại không lấy đó làm bài học mà tiếp tục cố ý tàng trữ ma tuý để sử dụng cho bản thân nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, với mức hình phạt nghiêm khắc đối với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
[5] Về hình phạt bổ sung:
Xét thấy bị cáo Trần Thị H không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
Số ma túy thu giữ của bị cáo Trần Thị H là vật Nhà nước cấm lưu hành nên sẽ tịch thu tiêu hủy.
Chiếc xe máy biển kiểm soát 18F4-0100 và 01 điện thoại di động là tài sản của Trần Thị H xét thấy không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
[7] Về các vấn đề khác trong vụ án:
Đối với đối tượng bán ma túy cho bị cáo Trần Thị H do tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ kết luận nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N tách ra để điều tra, xử lý sau.
[8] Về án phí:
Bị cáo Trần Thị H bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Tuyên bố bị cáo Trần Thị H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Trần Thị H 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22-6-2024.
- Xử lý vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy số ma túy tại phong bì niêm phong số 1187/KL-KTHS.
- - Trả lại bị cáo 01 chiếc xe máy biển kiểm soát 18F4-0100 và 01 điện thoại di động Nokia màu đen nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
(Vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20-9-2024 giữa Công an thành phố N và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Nam Định).
- Án phí hình sự sơ thẩm:
Bị cáo Trần Thị H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng)
- Quyền kháng cáo:
Bị cáo Trần Thị H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo Trần Thị H có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lương Thị Kim Huế |
CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
Bản án số 216/2024/HS-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 216/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thị Hải phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý
