Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĨNH CỬU

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 216/2023/HSST

Ngày: 20-12-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Tấn Phát

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Anh

Bà Trần Thị Hoa

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Đức Hoàng – Thư ký Toà án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên toà: Ông Trần Thanh Tuất - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 12 năm 2023, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 210/2023/HSST ngày 27 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 229/2023/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Minh H, sinh năm 1993 tại tỉnh Đồng Nai. Nơi đăng ký thường trú: ấp Đ, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Minh C, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1970; Gia đình có ba anh em, bị cáo là con thứ ba; Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền sự: Không. Tiền án: Ngày 06/12/2022, bị Toà án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xử phạt 08 (tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 14/5/2023. Nhân thân: Ngày 13/01/2013, bị Toà án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xử phạt 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ từ ngày 14/9/2023. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam B5 Công an tỉnh Đ (có mặt).

Bị hại:

Bà Vũ Thị X, sinh năm 1995. Địa chỉ: số nhà G, tổ C, ấp E, xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt)

1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Minh H có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích. Khoảng 15 giờ, ngày 08/9/2023, H điều khiển xe mô tô biển số 60Z2-1469, màu đỏ-đen-bạc đến nhà bà Vũ Thị X, sinh năm 1995 tại tổ C, ấp E, xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai tìm gặp chồng bà X là ông Võ Văn Q, sinh năm 1994 nhưng không gặp. Lúc này, H hỏi bà X mượn điện thoại di động để liên lạc với ông Q, bà X đồng ý và đưa cho H 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 10, màu đen đồng thời đọc mật khẩu khóa màn hình cho H mở. Sau khi gọi điện thoại xong, H không trả điện thoại cho bà X mà bỏ vào túi quần rồi đem đến tiệm cầm đồ “Long” của ông Dường Thiến Q1 - sinh năm 1998, ngụ ấp H, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai cầm cố lấy 1.200.000 đồng tiêu dùng cá nhân. Không thấy H trả điện thoại, chiều ngày 09/9/2023, bà X đã đến Công an xã V trình báo.

Ngày 13/9/2023, Nguyễn Minh H đến Công an xã V đầu thú. Công an xã lập biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú, thu giữ tang vật, chuyển hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V giải quyết theo thẩm quyền.

Tang vật thu giữ: 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi Note 10, màu đen, không có thẻ sim và 01 (một) hợp đồng cầm đồ của cửa hàng dịch vụ cầm đồ “L” do ông Dường Thiến Q1 giao nộp

Đối với xe mô tô biển số 60Z2-1469: Kết quả xác minh xác định xe mô tô do bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1970, ngụ ấp Đ, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai (mẹ H) đứng tên đăng ký. Ngày 08/9/2023, H mượn xe mô tô của bà H1 đi công việc sau đó phạm tội. Bà H1 không biết nên không có căn cứ thu hồi.

Tại Kết luận định giá tài sản số 72/KL-ĐGTS, ngày 21/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V kết luận điện thoại di động hiệu Redmi Note 10 trị giá 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng).

Xử lý tang vật, tài sản tạm giữ:

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã giao trả điện thoại di động hiệu Redmi Note 10 cho bà Vũ Thị X là chủ sở hữu.

Về trách nhiệm dân sự: Bà Vũ Thị X đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì khác, ông Dường T Quay không yêu cầu bị cáo bồi thường dân sự.

Tại bản cáo trạng số 211/CT-VKSVC ngày 24/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu để xét xử đối với bị cáo Nguyễn Minh H về tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh H phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản".

2

Áp dụng điểm a, khoản 1, Điều 175; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự và đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Minh H từ 10 (mười) đến 12 (mười hai) tháng tù.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đã truy tố và không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì đối với lời luận tội của đại diện Viện Kiểm sát.

Trong lời nói sau cùng bị cáo đã nhận thức rõ về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt mức thấp nhất cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử cũng như tại phiên tòa, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự, các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ, quyền được bào chữa và tự bào chữa của bị cáo được bảo đảm. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều phù hợp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Minh H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, cụ thể: Khoảng 15 giờ ngày 08/9/2023 bị cáo đến nhà ông Võ Văn Q tìm ông Q nhưng không gặp, bị cáo đã mượn điện thoại di động hiệu Redmid Note 10 của bà Vũ Thị X là vợ của ông Q để gọi điện cho ông Q. Do không có tiền tiêu xài nên bị cáo không trả lại điện thoại cho bà X mà chiếm đoạt rồi đến tiệm cầm đồ do ông Dường Thiến Q1 làm chủ cầm điện thoại lấy số tiền 1.200.000 đồng tiêu xài cá nhân. Bị cáo từng bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích nay lại có hành vi mượn điện thoại di động hiệu Redmid Note 10 trị giá 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng) của bà X rồi chiếm đoạt. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” được quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần có mức hình phạt đủ nghiêm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo có nhân thân xấu, từng bị Tòa án xét xử nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân nay lại tiếp tục phạm tội. Tuy nhiên trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản đã được thu hồi trả lại cho chủ sở hữu; bị cáo tự nguyện đầu thú nên được áp dụng các

3

tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bà Vũ Thị X đã nhận lại tài sản, ông Dường Thiến Q1 không yêu cầu bị cáo bồi thường dân sự nên không xem xét, giải quyết.

[6] Về các vấn đề khác liên quan đến vụ án: Ông Dường Thiến Q1 khi cầm điện thoại của bị cáo không biết tài sản do bị cáo phạm tội mà có nên không có căn cứ xử lý.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[8] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu về tội danh, xử lý vật chứng và án phí phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a, khoản 1, Điều 175; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh H phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản"

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh H 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/9/2023.

2. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - UBND xã nơi b/c cư trú;
  • - VKSND H.Vĩnh Cửu;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Công an H.Vĩnh Cửu;
  • - Nhà tạm giữ CA H.Vĩnh Cửu;
  • - CC.THADS H.Vĩnh Cửu;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(đã ký tên và đóng dấu)

Nguyễn Tấn Phát

4

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 216/2023/HSST ngày 20/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 216/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Minh H phạm tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger