Hệ thống pháp luật

PTÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 216/2024/HNGĐ-ST

Ngày 16-8-2024

V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thúy Hà

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Phạm Mạnh Hùng

Bà Vũ Thị Minh Nguyệt

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thủy Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Ngày 16 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án thụ lý số 209/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 207/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đào Thị Thu D; nơi cư trú: Thôn B, xã Đ, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt;

- Bị đơn: Anh ZHANG, NAN; nơi cư trú: Số A, đường H, quận T, thành phố T, Trung Quốc; vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn là chị Đào Thị Thùy D1 trình bày:

Chị Đào Thị Thùy D1 và anh Z, N kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện T, thành phố Hải Phòng vào ngày 09/12/2022. Sau khi kết hôn, anh Z, Nan bảo lãnh cho chị D1 sang Trung Quốc đoàn tụ vợ chồng. Quá trình chung sống vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn vào khoảng cuối năm 2023, do không cùng chung quan điểm sống, bất đồng ngôn ngữ, văn hóa, lối sống, tính cách không phù hợp. Gia đình hai bên đã khuyên bảo, hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả, mâu thuẫn giữa anh chị ngày càng trầm trọng. Đến tháng 6 năm 2024, chị D1 đã trở về Việt Nam sinh sống và không có ý định quay trở lại Trung Quốc đoàn tụ với anh Z, N. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên chị D1 đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết cho chị D1 được ly hôn với anh Z, N.

Về con chung: Chị Đào Thị Thùy D1 và anh Z, N không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Đào Thị Thùy D1 và anh Z, N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai đã được hợp pháp hóa lãnh sự, bị đơn là anh Z, N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh thống nhất với lời trình bày của chị D1 về quan hệ hôn nhân và mâu thuẫn vợ chồng. Nay, xét thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, anh Z, N đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết cho anh Z, N được ly hôn với chị Đào Thị Thùy D1.

Về con chung: Anh Z, N và chị D1 không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh Z, N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Đào Thị Thùy D1 có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Z, N. Do vậy, quan hệ pháp luật trong vụ án là “ly hôn”. Nguyên đơn là chị Đào Thị Thùy D1 có nơi cư trú tại Hải Phòng và bị đơn là anh Z, N hiện đang sinh sống tại Trung Quốc. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm c khoản 1 Điều 40; điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Đào Thị Thùy D1 và bị đơn là anh Z, N vắng mặt nhưng cùng có yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Do vậy, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đào Thị Thùy D1 và anh Z, N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện T, thành phố Hải Phòng vào ngày vào ngày 09/12/2022. Theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình, quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Quá trình chung sống, chị D1 và anh Z, N phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng về quan điểm sống, ngôn ngữ, văn hóa, lối sống, tính cách không phù hợp. Nay cả hai anh chị đều xác định tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên cùng đề nghị Tòa án giải quyết cho anh chị được ly hôn. Như vậy, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cần áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu của chị Đào Thị Thùy D1 về việc xin ly hôn với anh Z, N.

[3] Về con chung: Chị Đào Thị Thùy D1 và anh Z, N cùng xác nhận anh chị không có con chung, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[4] Về tài sản chung: Chị Đào Thị Thùy D1 và anh Z, N cùng xác nhận anh chị không có con chung, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[6] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Đào Thị Thùy D1 phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: Chị Đào Thị Thùy D1 và anh Z, N không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm c khoản 1 Điều 40, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đào Thị Thùy D1.
    1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đào Thị Thùy D1 được ly hôn anh Z, N.
    2. Về con chung: Chị Đào Thị Thùy D1 và anh Z, N cùng xác nhận anh chị không có con chung, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
    3. Về tài sản chung: Chị Đào Thị Thùy D1 và anh Z, N không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
  2. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Đào Thị Thùy D1 phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000560 ngày 18 tháng 7 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Đào Thị Thùy D1 đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo:

    Chị Đào Thị Thùy D1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

    Anh Z, N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014./.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - Cục THADS TP Hải Phòng;
  • - UBND huyện Thủy Nguyên, TP Hải Phòng;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu: HCTP, hồ sơ vụ án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Thúy Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 216/2024/HNGĐ-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn

  • Số bản án: 216/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger