Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THANH HOÁ

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 216/2024/HS - ST

Ngày: 14-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thủy

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hạnh

Bà Mai Thị Tiếp

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Hà - Thư ký Tòa án thành phố Thanh Hóa

- Đại diện VKSND thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa:

Bà Bùi Thị Trà M - Kiểm sát viên

Ngày 14 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 235/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 242/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1983. Nơi cư trú: Số nhà A N, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Trọng T; và bà: Phạm Thị T1; vợ: Nguyễn Thị Hoài H và 02 con; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ: ngày 19/01/2024 đến ngày 28/01/2024 thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, “có mặt”.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Nguyễn Quang Đ, sinh năm 1989 “vắng mặt”
    Trú tại: R1-K3 phố Bình Minh, phường Đông Hương, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
  2. Ông Lê Danh T2, sinh năm 1959 “vắng mặt”
    Trú tại: Số nhà 58 Lê Lai, phường Đông Hương, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
  3. Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1976 “vắng mặt”
    Trú tại: Số nhà 78 Lê Thần Tông, phường Đông Vệ, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
  4. Chị Đỗ Thị H1, sinh năm 1974 “vắng mặt”
    Trú tại: Số nhà F, Á, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa
  5. Anh Hoàng Liên T3, sinh năm 2088 “vắng mặt”
    Trú tại: Số nhà D L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa
  6. Anh Nguyễn Lê T4, sinh năm 1983 “vắng mặt”
    Trú tại: Số nhà 18/6 Lê Văn Hưu, phường Tân Sơn, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
  7. Chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1979 “vắng mặt”
    Trú tại: Số nhà F N, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa
  8. Anh Phạm Văn Đ1, sinh năm 1972 “vắng mặt”
    Trú tại: Số nhà 10/138 Tân Hương, phường Đông Hương, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
  9. Anh Phạm Trung T5, sinh năm 1982 “vắng mặt”
    Trú tại: Số nhà A T, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sau khi nhận được tin tố giác của quần chúng nhân dân, Đội cảnh sát điều tra hình sự Công an thành phố T tiến hành xác minh và có cơ sở xác định: Nguyễn Tuấn A có hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.

Tại cơ quan điều tra, Tuấn A khai nhận: Do không có công ăn việc làm ổn định, muốn thu lời bất chính từ việc cho vay tiền nên thông qua các mối quan hệ quen biết Tuấn A đã sử dụng tiền tiết kiệm của cá nhân để cho 09 người dân trên địa bàn thành phố T vay tiền với lãi suất cao dưới hình thức tín chấp, trả lãi theo tháng hoặc đóng theo kỳ thăm với lãi suất 109,5%/năm (gấp 5,5 lần mức lãi suất tối đa theo quy định, cụ thể:

  1. Ngày 03/3/2020 cho anh Nguyễn Quang Đ vay số tiền 20.000.000 đồng với mức lãi suất 3000đ/triệu/ngày (tương ứng với mức lãi suất 109,5%/năm), lãi suất 1.800.000đ/tháng. Đến đầu tháng 3/2021, Tuấn A đã thu được 12 tháng lãi với số tiền 21.600.000đ (trong đó lãi thu theo quy định là 3.945.205 đồng, thu lời bất chính 17.654.795 đồng) thì đồng ý cho anh Đ dừng đóng lãi, chỉ trả tiền gốc. Từ đầu tháng 3/2021 đến tháng 11/2023, anh Đ đã trả dần hết số tiền gốc 20.000.000 đồng cho Tuấn A.
  2. Ngày 28/02/2021 cho ông Lê Danh T2 vay số tiền 20.000.000 đồng với mức lãi suất 3000đ/triệu/ngày (tương ứng với mức lãi suất 109,5%/năm), lãi suất 1.800.000đ/tháng. Đến ngày 19/01/2024, ông T2 đã trả 35 tháng lãi với số tiền 63.000.000đ (trong đó lãi thu theo quy định là 11.666.667đồng, thu lời bất chính 51.333.333đồng) nhưng chưa thanh toán được tiền gốc. Đến nay ông T2 đã trả hết số tiền gốc 20.000.000 đồng cho Tuấn A.
  3. Ngày 10/11/2022 cho chị Nguyễn Thị N vay số tiền 20.000.000 đồng dưới hình thức vay thăm, mức lãi suất 3000đ/triệu/ngày (tương ứng với mức lãi suất 109,5%/năm). Khi cho vay, Tuấn A đã cắt trước 3.000.000 đồng tiền lãi (lãi theo quy định 547.945 đồng và lãi thu vượt quá quy định là 2.452.055 đồng), chị N còn thực nhận 17.000.000 đồng. Số tiền gốc 20.000.000 đồng, chị N phải trả cho Tuấn A trong thời hạn 50 ngày, từ ngày 10/11/2022 đến ngày 30/12/2022, mỗi ngày 400.000 đồng nhưng đến tháng 12/2023 chị N mới trả hết số tiền gốc.
  4. Ngày 12/10/2023 cho chị Đỗ Thị H1 vay số tiền 15.000.000 đồng dưới hình thức vay thăm, mức lãi suất 3000đ/triệu/ngày (tương ứng với mức lãi suất 109,5%/năm). Khi cho vay, Tuấn A đã cắt trước 2.250.000 đồng tiền lãi gồm: lãi theo quy định 410.959đồng và lãi thu vượt quá quy định là 1.839.041đồng), chị H1 còn thực nhận 12.750.000 đồng. Số tiền gốc 15.000.000 đồng, chị H1 phải trả cho Tuấn A trong thời hạn 50 ngày, từ ngày 12/10/2023 đến ngày 01/12/2023, mỗi ngày 300.000 đồng. Chị H1 đã trả hết tiền gốc cho Tuấn A.
  5. Ngày 20/11/2023 cho anh Hoàng L T3 vay số tiền 10.000.000 đồng dưới hình thức vay thăm, mức lãi suất 3000đ/triệu/ngày (tương ứng với mức lãi suất 109,5%/năm). Khi cho vay, Tuấn A đã cắt trước 1.500.000 đồng tiền lãi gồm: lãi theo quy định 273.973đồng và lãi thu vượt quá quy định là 1.226.027 đồng), anh T3 còn thực nhận 8.500.000 đồng. Số tiền gốc 10.000.000 đồng, anh T3 phải trả cho Tuấn A trong thời hạn 50 ngày, từ ngày 20/11/2023 đến ngày 09/01/2024, mỗi ngày 200.000 đồng. Anh T3 đã trả hết tiền gốc cho Tuấn A.
  6. Ngày 08/12/2023 cho anh Nguyễn Lê T4 vay số tiền 10.000.000 đồng dưới hình thức vay thăm, mức lãi suất 3000đ/triệu/ngày (tương ứng với mức lãi suất 109,5%/năm). Khi cho vay, Tuấn A đã cắt trước 1.500.000 đồng tiền lãi gồm: lãi theo quy định 273.973đồng và lãi thu vượt quá quy định là 1.226.027 đồng, anh T3 còn thực nhận 8.500.000 đồng. Số tiền gốc 10.000.000 đồng, anh T3 phải trả cho Tuấn A trong thời hạn 50 ngày, từ ngày 08/12/2023 đến ngày 27/01/2024, mỗi ngày 200.000 đồng. Tính đến ngày 19/01/2024, anh T4 mới trả được 8.000.000 đồng, còn lại 2.000.000 đồng. Đến nay anh T4 đã trả hết tiền gốc cho Tuấn A.
  7. Ngày 11/12/2023 cho chị Nguyễn Thị H2 vay số tiền 5.000.000 đồng dưới hình thức vay thăm, mức lãi suất 3000đ/triệu/ngày (tương ứng với mức lãi suất 109,5%/năm). Khi cho vay, Tuấn A đã cắt trước 750.000 đồng tiền lãi gồm: lãi theo quy định 136.986đồng và lãi thu vượt quá quy định là 613.014 đồng, chị H2 còn thực nhận 4.250.000 đồng. Số tiền gốc 5.000.000 đồng, chị H2 phải trả cho Tuấn A trong thời hạn 50 ngày, từ ngày 11/12/2023 đến ngày 30/01/2024, mỗi ngày 100.000 đồng. Tính đến ngày 19/01/2024, chị H2 đã trả được 3.900.000 đồng, còn lại 1.100.000 đồng. Đến nay chị H2 đã trả hết tiền gốc cho Tuấn A.
  8. Ngày 16/12/2023 cho anh Phạm Văn Đ1 vay số tiền 20.000.000 đồng dưới hình thức vay thăm, mức lãi suất 3000đ/triệu/ngày (tương ứng với mức lãi suất 109,5%/năm). Khi cho vay, Tuấn A đã cắt trước 3.000.000 đồng tiền lãi (lãi theo quy định 547.945 đồng và lãi thu vượt quá quy định là 2.452.055 đồng), anh Đ1 còn thực nhận 17.000.000 đồng. Số tiền gốc 20.000.000 đồng, anh Đ1 phải trả cho Tuấn A trong thời hạn 50 ngày, từ ngày 16/12/2023đến ngày 04/02/2024, mỗi ngày 400.000 đồng. Đến ngày 04/01/2024 anh Đ1 đã trả hết số tiền gốc.

Ngày 05/01/2024, anh Đ1 tiếp tục vay 10.000.000 đồng cùng hình thức và lãi suất như trên. Tuấn A đã cắt trước 1.500.000 đồng tiền lãi gồm: lãi theo quy định 273.973đồng và lãi thu vượt quá quy định là 1.226.027 đồng, anh Đ1 còn thực nhận 8.500.000 đồng. Số tiền gốc 10.000.000 đồng, anh Đ1 phải trả cho Tuấn A trong thời hạn 50 ngày, từ ngày 05/01/2024 đến ngày 24/02/2024, mỗi ngày 200.000 đồng. Tính đến ngày 19/01/2024, anh Đ1 mới trả được 2.800.000 đồng tiền gốc, còn lại 7.200.000 đồng chưa thanh toán. Đến nay anh Đ1 đã trả hết tiền gốc cho Tuấn A.

  1. Ngày 31/12/2023 cho anh Phạm Trung T5 vay số tiền 10.000.000 đồng dưới hình thức vay thăm, mức lãi suất 3000đ/triệu/ngày (tương ứng với mức lãi suất 109,5%/năm). Khi cho vay, Tuấn A đã cắt trước 1.500.000 đồng tiền lãi gồm: lãi theo quy định 273.973đồng và lãi thu vượt quá quy định là 1.226.027 đồng, anh T5 còn thực nhận 8.500.000 đồng. Số tiền gốc 10.000.000 đồng, anh T5 phải trả cho Tuấn A trong thời hạn 50 ngày, từ ngày 31/12/2023 đến ngày 19/02/2024, mỗi ngày 200.000 đồng. Tính đến ngày 19/01/2024, anh Đ1 mới trả được 3.800.000 đồng tiền gốc, còn lại 6.200.000 đồng chua thanh toán. Đến nay anh T4 đã trả hết tiền gốc cho Tuấn A.

Tổng số tiền Tuấn A cho 09 khách vay là 140.000.000 đồng, số tiền thực tế bị cáo sử dụng để cho vay là 123.200.000 đồng. Tính đến ngày 19/01/2024, số tiền lãi Tuấn A đã thu được 99.600.000 đồng, trong đó: thu theo quy định là 18.191.781 đồng và thu lời bất chính là 81.408.219 đồng.

Ngày 19/01/2024, Nguyễn Tuấn A đến Cơ quan Công an đầu thú và giao nộp 10 giấy nhận tiền cho 09 khách vay; 01 điện thoại Nokia 1280 màu đỏ, gắn số sim điện thoại 0915.438.xxx. Cơ quan cảnh sát điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Tuấn A ở số nhà A N, phường Đ, thành phố T nhưng không thu giữ được gì.

Vật chứng thu giữ gồm:

10 Giấy nhận tiền, cơ quan điều tra đã chuyển kèm theo hồ sơ vụ án. Đối với chiếc điện thoại di động Nokia 1280 màu đỏ, gắn thẻ sim số 0914538348, Tuấn A sử dụng chiếc điện thoại này để liên lạc khi thực hiện việc cho vay tiền. Cơ quan điều tra đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa để xử lý theo quy định.

Về phần dân sự: Anh Phạm Văn Đ1, ông Lê Danh T2, anh Nguyễn Lê T4, anh Hoàng Liên T3, anh Phạm Trung T5, anh Nguyễn Quang Đ, chị Đỗ Thị H1 và chị Nguyễn Thị H2 không yêu cầu Tuấn A phải bồi thường lại số tiền thu lời bất chính. Chị Nguyễn Thị N đề nghị bị cáo phải bồi thường lại số tiền thu lời bất chính 2.452.055 đồng.

Tại bản cáo trạng số 163/CT-VKS ngày 10 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thanh Hoá truy tố Nguyễn Tuấn Anh về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thanh Hoá giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1, khoản 3 Điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự. Mức hình phạt đề nghị từ 18 đến 24 tháng tháng cải tạo không giam giữ. Áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo từ 40.000.000đ đến 50.000.000₫ để nộp ngân sách nhà nước.

Về biện pháp tư pháp: Đề nghị truy thu của bị cáo số tiền gốc dùng để cho vay là 123.200.000 đồng, tiền lãi suất 20% theo quy định là 18.191.781đồng. Tổng số tiền truy thu của bị cáo là 141.391.781đồng.

Buộc bị cáo phải trả số tiền lãi suất thu vượt quá 20% cho chị N là 2.452.055 đồng đồng.

Ghi nhận sự tự nguyện của anh Phạm Văn Đ1, ông Lê Danh T2, anh Nguyễn Lê T4, anh Hoàng Liên T3, anh Phạm Trung T5, anh Nguyễn Quang Đ, chị Đỗ Thị H1 và chị Nguyễn Thị H2 không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền lãi thu vượt quá quy định.

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị về án phí và vật chứng.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiền hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu khác phản ánh trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở chứng minh: Do có mục đích vụ lợi, trong thời gian từ tháng 3/2020 đến tháng 01/2024, Nguyễn Tuấn A đã có hành vi cho vay lãi nặng đối với 09 khách hàng trên địa bàn thành phố T vay với tổng số tiền 140.000.000. Số tiền thực tế bị cáo sử dụng để cho vay là 123.200.000đ, với mức lãi suất 3.000đ/1triệu/1 ngày, tương ứng với mức lãi suất 109,5%/năm 5,5 lần so với quy định của Bộ luật dân sự. Khách vay đã trả hết số tiền gốc cho Tuấn A, số tiền lãi Tuấn A đã thu là 99.600.000 đồng (trong đó số tiền lãi thu theo quy định (20%) là 18.191.781đồng và số tiền lãi thu vượt quá quy định là 81.408.219đồng).

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi phạm tội của Nguyễn Tuấn A có đủ các dấu hiệu cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Tội danh và khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 201 của Bộ luật hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở, đúng pháp luật.

[3] Tính chất vụ án và trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, cụ thể là trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ được pháp luật bảo vệ; gây thiệt hại đến quyền lợi của người vay. Mặc dù, bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng do xem thường pháp luật, muốn thu lời bất chính nên đã phạm tội. Vì vậy, cần phải được xử lý nghiêm minh để giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.

Khi quyết định hình phạt cần xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo vì tại các cơ quan pháp luật bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đầu thú. Căn cứ điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên cho bị cáo được cải tạo tại địa phương để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, sớm trở thành công dân có ích cho xã hội, căn cứ Điều 36 Bộ luật hình sự.

Bị cáo có công việc, thu nhập mỗi tháng từ 3.000.000₫ đến 4.000.000 đồng nên khấu trừ thu nhập của bị cáo 10% mỗi tháng là 400.000đ để sung quỹ nhà nước.

[4] Về biện pháp tư pháp:

- Đối với số tiền gốc: Tổng số tiền các khách hàng vay của bị cáo 140.000.000 đồng nhưng bị cáo chỉ sử dụng số tiền 123.200.000 đồng để cho vay. Số tiền gốc này bị cáo không sử dụng để quay vòng vốn và cho khách vay lại (không sử dụng tiền gốc của người này để cho người khác vay lại) nên xác định toàn bộ số tiền này là phương tiện dùng vào việc phạm tội.

- Đối với khoản tiền lãi suất giới hạn 20%/năm theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự của 09 người vay là 18.191.781 đồng là khoản tiền phát sinh từ tội phạm.

Do bị cáo là người dùng tiền của mình cho các khách vay và được hưởng lợi từ việc cho vay nên căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự truy thu bị cáo Tuấn A số tiền gốc 123.200.000 đồng và 18.191.781 đồng tiền lãi suất tối thiểu 20%/năm theo quy định. Tổng là 141.391.781 đồng để nộp vào ngân sách nhà nước.

- Đối với khoản lãi suất bị cáo thu của người vay vượt quá quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự là 81.408.219 đồng, trong đó: thu của anh Đ là 17.654.795 đồng, của ông T2 là 51.333.333 đồng, của chị N là 2.452.055đồng, của chị H1 là 1.839.041đồng, của anh T3 là 1.226.027 đồng, anh T4 1.226.027đồng, của chị H2 613.014 đồng, của anh Đ1 là 3.678.082 đồng và của anh T5 là 1.225.027đồng. Những người vay tiền của bị cáo không dùng số tiền đi vay vào mục đích bất hợp pháp. Anh Đ1, chị H2, chị H1, anh T4, anh T3, anh T5, ông T2 và anh Đ không yêu cầu bị cáo phải bồi thường lại số tiền lãi thu quá quy định nên ghi nhận sự tự nguyện của anh Đ1, chị H2, chị H1, anh T4, anh T3, anh T5, ông T2 và anh Đ.

Chị Nguyễn Thị N yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền lãi thu vượt quá quy định, do đó buộc bị cáo phải trả lại cho chị N số tiền 2.452.055đồng.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Tuấn A cho vay với mục đích vụ lợi nên căn cứ khoản 3 Điều 201 Bộ luật hình sự áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền 40.000.000đ đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng: Đối với chiếc điện thoại N1, model: 1280, màu đỏ, Imel: 355498/05/678346/4 thu của bị cáo. Bị cáo sử dụng chiếc điện thoại nay đề liên lạc vào việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước. Căn cứ khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1, khoản 3 Điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự. Khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 của Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tuấn A phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”

Xử phạt: Nguyễn Tuấn A 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ kể từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an thành phố T, tỉnh Thanh Hóa nhận được Quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Nguyễn Tuấn A cho UBND phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Khấu trừ thu nhập của bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ mỗi tháng 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng) để sung quỹ Nhà nước.

Phạt bị cáo Nguyễn Tuấn A 40.000.000₫ (bốn mươi triệu đồng) để sung quỹ nhà nước.

Về biện pháp tư pháp:

- Truy thu từ bị cáo Nguyễn Tuấn A số tiền tiền gốc 123.200.000 đồng và 18. 191.781 đồng tiền lãi suất theo quy định. Tổng là 141.391.781 đồng để nộp vào ngân sách nhà nước.

- Buộc bị cáo Nguyễn Tuấn A trả lại số tiền lãi suất thu vượt quá quy định cho chị Nguyễn Thị N số tiền 2.452.055đồng.

Ghi nhận sự tự nguyện của anh Đ1, chị H2, chị H1, anh T4, anh T3, anh T5, ông T2 và anh Đ không yêu cầu bị cáo phải bồi thường lại số tiền lãi thu quá quy định.

Về vật chứng:

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc thoại di động nhãn hiệu Nokia, dạng máy bàn phím, model 1280, Imel: 355498/05/678346/4, điện thoại gắn thẻ sim. Điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy móc bên trong hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa theo biên bản giao nhận vật chứng số 142/2024/THA ngày 17/4/2024.

Án phí:

Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm

Người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người có QLNVLQ
  • - VKSND TPTH;
  • - Công an TPTH;
  • - TAND tỉnh TH
  • - VKD ND tỉnh T
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM.

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị T6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 216/2024/HS - ST ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ, TỈNH THANH HÓA về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 216/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cho vay
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger