Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 216/2024/HS-ST
Ngày 10 - 5 - 2024

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thương Huyền

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Huỳnh Trường Sơn
  2. Bà Phạm Thị Hồng Hương

- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thùy Linh – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 132/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1949/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ tên: Đinh Quốc C; Giới tính: Nam; Sinh ngày 25/10/1983 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú: A L, Phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 7 N, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam;Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 02/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Đinh Văn N và bà Mao Thị Kim H; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 04/3/2014 bị Tòa án nhân dân Quận Tân Phú xử phạt 01 năm 3 tháng tù (theo Bản án số 49/2014/HSST ngày 04/3/2014); Ngày 26/8/2014 bị Tòa án nhân dân Quận 3 xử phạt 04 năm 3 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 110/2014/HSST ngày 26/8/2014); Ngày 04/10/ 2018 bị Tòa án nhân dân Quận 11 xử phạt 03 năm 6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”(theo Bản án số 70/2018/HS-ST ngày 04/10/2018). Các bản án này Đinh Quốc C đã được xóa án tích. Tạm giam: Từ ngày 06/3/2023 tại Trại tạm giam C, Công an Thành phố H; Có mặt.

2. Họ tên: Phan Công D; Giới tính: Nam; Sinh ngày 16/12/1986 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú: 167/7/40/11 P, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 4 P, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam;Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Làm công; Con ông: Trần Văn K (Đã chết) và bà Phan Thị Kim H1; Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Yến N1; Bị cáo có 04 con,con lớn nhất sinh năm 2012, con nhỏ nhất sinh năm 2023; Nhân thân: Ngày 09/9/2003, Ủy ban nhân dân Thành phố H ra Quyết định đưa vào Trường giáo dưỡng 24 tháng theo Quyết định số 5469/QĐ về hành vi “Cưỡng đoạt tài sản, Trộm cắp tài sản, Gây rối trật tự cộng cộng”, ngày 24/6/2008 bị Tòa án nhân dân Quận 10 xử phạt 4 năm 6 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, (theo Bản án số 97/2008/HSST ngày 24/6/2008). Bản án này đã được xóa án tích; Tiền án: Có 01 tiền án, ngày 29/9/2017 bị Tòa án nhân dân Quận 8 xử phạt 04 năm 6 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” (theo Bản án số 304/2017/HSST ngày 29/9/2017); Tiền sự: Không; Bị tạm giam: Từ ngày 06/3/2023 tại Trại tạm giam C, Công an Thành phố H; Có mặt.

3. Họ tên: Trần Minh T; Giới tính: Nam; Sinh ngày 17/5/1979 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú: C B, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: B Đ, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Trần Văn B (Đã chết) và bà Nguyễn Thị T1; Vợ: Nguyễn Thị Huyền T2 đã ly hôn; Có 01 con, sinh năm 2004; Tiền sự: 01 tiền sự: Ngày 29/7/2020, Tòa án nhân dân Quận 5 ra Quyết định Số 113/2020/QĐ-TA về Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng; Tiền án: Ngày 08/8/2019 bị Tòa án nhân dân Quận 8 xử phạt 01 năm tù về tội: “Trộm cắp tài sản” (theo Bản án số 112/2019/HSST ngày 08/8/2019); Ngày 27/01/2021 bị Tòa án nhân dân Quận 1 xử phạt 02 năm 6 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”, (theo Bản án số 33/2021/HSST ngày 27/01/2021), Bị tạm giam từ ngày 06/3/2023 tại Trại tạm giam C, Công an Thành phố H; Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Đinh Quốc C: Luật sư Đào Đức H2, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H, Trung tâm T3; Có mặt.

Bị hại:

  1. Ông Hứa Huỳnh Nhật H3, sinh năm: 1997.
    Địa chỉ: 4 Hồ N, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
  2. Ông Dương Nguyên K1, sinh năm: 1986.
    Địa chỉ: B P, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Ngũ Vỹ H4, sinh năm:
Địa chỉ:3 H, Phường E, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 20/02/2023, Đinh Quốc C mang theo 01 (một) ba lô bên trong có một cây kìm cộng lực, 01 áo khoác đi bộ trên đường H thuộc Phường A, Quận A tìm nhà dễ đột nhập để vào trong trộm cắp tài sản. Đến khoảng 03 giờ sáng ngày 20/02/2023, C trèo lên hàng rào nhà 4 Hồ N, Phường A, Quận A, leo sang lỗ thông gió sử dụng kìm cộng lực cắt ổ khóa đột nhập nhà số D Hồ N, Phường A, Quận A. C đi xuống tầng trệt lấy trộm chiếc xe mô tô hiệu Air Blade biển số 59M1-230.03 (có gắn chìa khóa ở trên xe). C lấy chìa khóa để ở trên bàn, mở cửa nhà chạy xe ra đường tẩu thoát. Sau đó, C đem xe bán cho một người đàn ông tên M (chưa xác định được lai lịch) với giá 4.500.000 đồng. Ngày 16/3/2023 Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận A ban hành Kết luận định giá số 22/KL-HĐĐGTS, kết luận: xe máy nhãn hiệu Air Blade biển số 59M1-230.03 (Cơ quan Công an chưa thu hồi). Giá trị tài sản là 13.750.000 đồng.

Sáng ngày 04/3/2023, bị cáo Đinh Quốc C mang theo 01 (một) ba lô bên trong có một cây kìm thủy lực tiếp tục đi tìm kiếm nhà ở dễ đột nhập để trộm cắp tài sản. Khoảng gần 03 giờ cùng ngày 04/3/2023, lúc C đi đến trước nhà số A đường C tháng B, Phường A, Quận A thấy cửa khóa bên ngoài. C sử dụng kìm thủy lực để cắt ổ khóa rồi mở cửa vào trong lấy xe hiệu Yamaha biển số 59S3-500.00 của anh Dương Nguyên K1 đưa ra ngoài cửa, do không biết chạy xe tay côn nên C đã gọi cho bị cáo Phan Công D (gọi là Bồ Đ) đến để đưa xe về. Bị cáo D đồng ý và điều khiển xe Vision biển số 59T2-479.08 đến lấy xe biển số 59S3-500.00 chạy về nhà trọ của C ở số G N, Phường A, Quận H. C điều khiển xe Vision 59T2-479.08 của D qua nhà trọ của Trần Minh T (thường gọi là S), tại số B Đ, Phường A, Quận H, C rủ T đi trộm cắp xe, T đồng ý. C chở T đến nhà số A đường C tháng B, Phường A, Quận A, T vào nhà lấy 01 xe hiệu Yamaha Y125ZR (chưa gắn biển số lên xe), Do xe không có xăng nên C sử dụng xe Vision 59T2-479.08 kéo T cùng xe vừa trộm được về nhà trọ của T tại số B Đ, Phường A, Quận H và gọi cho D đưa xe Yamaha biển số 59S3-500.00 đến phòng trọ của T. Sau đó cả ba bị cáo ra quán cà phê ngồi, C bảo T gọi người bán 02 xe vừa trộm được, thì T gọi điện thoại cho anh Ngũ V H4 để bán xe. Anh Ngũ Vỹ H4 đến nhà trọ của T xem xe và hỏi T xe do đâu mà có, T nói trộm ở Quận A. Anh H4 qua tìm hiểu biết 02 xe trên của anh Dương Nguyên K1 bị mất trộm. Anh H4 đã liên lạc với T và yêu cầu T trả lại xe cho anh K1. T đem 02 xe trên gửi tại bãi giữ xe ở địa chỉ số C B, Phường A, Quận H rồi báo cho anh H4 biết để qua lấy lại xe trả cho anh K1. Trước khi T đến gửi 02 xe ở bãi giữ xe, thì anh K1 đã đến Công an P, Quận A trình báo sự việc bị mất trộm xe Yamaha biển số 59S3-500.00 và xe Yamaha Y125ZR biển số 59S3-618.18. Sau đó, Công an Q đến bãi giữ xe ở địa chỉ C B tạm giữ 02 xe này.

Ngày 15/3/2023 Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận A ban hành kết luận định giá số 19/KL-HĐĐGTS, kết luận: Xe nhãn hiệu Yamaha ZR Movistar màu xanh mang biển số 59S3-500.00. Giá trị tài sản là 415.000.000 đồng; Xe nhãn hiệu Yamaha Y125ZR màu xanh mang biển số 59S3-618.18. Giá trị tài sản là 302.500.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt vào ngày 04/3/2023 tại số A đường C, Phường A, Quận A, là 717.500.000 đồng.

Qua điều tra, truy xét căn cứ vào các liệu chứng cứ đã thu thập được vào ngày 15/3/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành bắt khẩn cấp đối với C, D và T. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Đinh Quốc C, Phan Công D, Trần Minh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai phù hợp vật chứng thu giữ và tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Cáo trạng số 118 /CT-VKS-P2 ngày 15/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Đinh Quốc C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Phan Công D về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Trần Minh T về tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại các điểm a khoản 3 Điều 173 và điểm a khoản 3 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát luận tội: Giữ nguyên bản cáo trạng như đã truy tố đối với các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm a Khoản 4 Điều 173; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Đinh Quốc C từ 14 đến 16 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm a Khoản 3 Điều 173; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Phan Công D từ 09 đến 11 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm a Khoản 3 Điều 173; điểm a khoản 3 Điều 323; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Trần Minh T từ 07 đến 08 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và từ 07 đến 08 năm tù về tội “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Các bị cáo khai nhận hành vi như đã nêu trên, các bị cáo không tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt, đề nghị Tòa án được trả lại chiếc xe Vision cho bị cáo Phan Công D.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Đinh Quốc C trình bày: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ là tự nguyện khắc phục hậu quả, bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải theo quy định tại điểm b,s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo trình độ học vấn thấp, hoàn cảnh khó khăn, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo dưới khung hình phạt và nhẹ hơn đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Các bị cáo nói lời sau cùng, xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: trong quá trình điều tra, truy tố Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo không có ý kiến, khiếu nại đối với các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng là hợp pháp. Người bào chữa cho bị cáo C đã thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2]Trong quá trình điều tra vụ án và xét hỏi tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi như đã nêu trong phần nội dung vụ án. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại là anh Hứa Huỳnh Nhật H3 và anh Dương Nguyên K1 về tài sản, thời gian và địa điểm bị mất trộm. Phù hợp với vật chứng thu giữ trong vụ án là công cụ C đã dùng gây án như kìm thủy lực, kìm cộng lực ổ khóa bị cắt, túi ba lô ... và phù hợp với hình ảnh camera ghi lại các bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp. Kết quả của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận A, kết luận: Xe nhãn hiệu Yamaha ZR Movistar màu xanh mang biển số 59S3-500.00 trị giá là 415.000.000 đồng; Xe nhãn hiệu Yamaha Y125ZR màu xanh mang biển số 59S3-618.18 trị giá là 302.500.000 đồng. Xe mô tô nhãn hiệu Air Blade biển số 59M1-230.03 (Cơ quan Công an chưa thu hồi) trị giá là 13.750.000 đồng. Bị cáo T đã tìm anh Ngũ Vỹ H4 để tiêu thụ 02 chiếc xe mô tô trong đó có 01 chiếc xe mô tô bị cáo C và bị cáo D trộm cắp. Sau khi xem xe và hỏi về nguồn gốc xe, anh H4 biết các bị cáo trộm cắp 02 chiếc xe đó của anh Dương Nguyên K1 và yêu cầu các bị cáo trả lại, việc bị cáo T không tiêu thụ được là ngoài ý muốn của bị cáo.

Như vậy, có đủ căn cứ kết luận: Đinh Quốc C 2 lần thực hiện hành vi trộm cắp 03 xe mô tô, tổng trị giá tài sản trộm cắp là:731.250.000 đồng, Phan Công D cùng với Đinh Quốc C trộm cắp 01 xe mô tô trị giá 415.000.000 đồng, Trần Minh T cùng với Đinh Quốc C trộm cắp 01 xe mô tô trị giá 302.500.000 đồng. Ngoài ra bị cáo T có hành vi tiêu thụ xe mô tô trị giá 415.000.000 đồng mà D và C trộm cắp. Do đó, bị cáo Đinh Quốc C phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a Khoản 4 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, bị cáo Phan Công D phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a Khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, bị cáo Trần Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản” và “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo điểm a Khoản 4 Điều 173 và điểm a Khoản 3 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của chủ sở hữu được pháp luật bảo vệ, hành vi này còn gây mất trật tự trị an và tâm lý bất an cho người dân trong khu vực.

[4] Xét vai trò của từng bị cáo:

Trong vụ án trộm cắp ngày 04/3/2023, có 03 bị cáo bị thực hiện hành vi phạm tội, tuy nhiên đây là vụ án đồng phạm giản đơn, không có sự cấu kết chặt chẽ và không có sự phân công vai trò nhiệm vụ giữa các bị cáo nên không coi là phạm tội có tổ chức.

Bị cáo Đinh Quốc C và người có vai trò chính, bị cáo thực hiện hành vi rất táo tợn liều lĩnh, cụ thể: Ngày 20/02/2023 bị cáo trèo qua hàng rào vào nhà 4 Hồ N, Phường A, Quận A rồi leo sang lỗ thông gió của nhà bên cạnh sử dụng kìm cộng lực cắt ổ khóa đột nhập nhà trộm cắp xe mang đi tiêu thụ; Ngày 04/3/2023 bị cáo sử dụng kìm thủy lực để cắt ổ khóa rồi mở cửa vào trong trộm cắp xe hiệu Yamaha biển số 59S3-500.00, do xe tay côn bị cáo không sử dụng được nên gọi D đến để giúp bị cáo mang đi cất dấu, sau đó lại gọi T đến lấy chiếc thứ 2, rồi bàn bạc với T để T tìm người tiêu thụ. Bị cáo D và bị cáo T, mỗi bị cáo đồng phạm với bị cáo C trộm cắp 01 xe nên bị cáo T và bị cáo D có vai trò sau bị cáo C.

[5]Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo:

Bị cáo Đinh Quốc C bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo Phan Công D bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo quy định tại điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo Trần Minh T bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải.Tài sản là 02 xe mô tô trị giá 717.500.000 đồng đã được thu hồi trả cho bị hại nên các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[6] Hội đồng xét xử căn cứ tính chất mức độ hành vi của từng bị cáo, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo và mức độ tham gia của từng đồng phạm để quyết định hình phạt, xử phạt các bị cáo với hình phạt tù nhằm giáo dục các bị cáo và giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.

[7 Các lập luận trên đây cũng là căn cứ để Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị của người bào chữa về việc xử phạt bị cáo Đinh Quốc C dưới khung hình phạt và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo Đinh Quốc C và Trần Minh T xử phạt bị cáo C và bị cáo T như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, xử phạt Phan Công D thấp hơn đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[8] Về trách nhiệm dân sự:

Anh Dương Nguyên K1 đã nhận lại toàn bộ tài sản mà các bị can Đinh Quốc C, Phan Công D, Trần Minh T đã trộm cắp là 02 (hai) xe (Xe Yamaha biển số 59S3-500.00 và xe Yamaha, biển số 59S3-618.18), không có yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét. Anh Hứa Huỳnh Nhật H3 yêu cầu bị cáo Đinh Quốc C phải bồi thường giá trị chiếc xe Air Blade biển số 59M1-230.03 là 13.750.000đồng. Xét yêu cầu của anh H3 là có căn cứ nên chấp nhận.

[9] Xử lý vật chứng:

  • 01 (Một) xe Vision màu xanh biển số 59T2-479.08, số khung: RLHJK0310MZ325509, số máy TK03E-6037762, đã qua sử dụng của Phan Công D là phương tiện di chuyển để các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung quỹ nhà nước;

  • Sau khi vụ án được xét xử, nếu có tranh chấp về vật chứng trên sẽ được giải quyết bằng vụ án dân sự khác.

  • 01 (Một) điện thoại di động Pixel 3a XL, màu trắng, số IMEI: 359643093427080, đã qua sử dụng của Đinh Quốc C dùng liên lạc trong việc phạm tội nên tịch thu sung quỹ nhà nước;

  • 01 (Một) điện thoại di động Redmi màu xanh, mặt kính bị nứt, đã qua sử dụng của Phan Công D dùng liên lạc trong việc phạm tội nên tịch thu sung quỹ nhà nước.

  • 01 (Một) điện thoại di dộng Redmi Note 11 màu đen, đã qua sử dụng của anh Ngũ Vỹ H4, do không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả cho anh Ngũ Vỹ H4.

  • Tịch thu tiêu hủy công cụ phương tiện phạm tội: 01 (Một) thùng giấy được dán niêm phong bên trong có 01 túi xách vải (dạng ba lô) màu đen - đỏ; 01 kìm cộng lực màu xanh, tay nắm nhựa màu đen dài 75cm; 01 ổ khóa màu đen; 01 (Một) cây kìm thủy lực màu xanh đen, đã qua sử dụng; 01 (một) mũ vải màu đen, đã qua sử dụng; 01 (một) mũ bảo hiểm màu đen, đã qua sử dụng; 01 (Một) ổ khóa kim loại màu trắng có chữ YETI, móc khóa bị cắt; 01 (Một) túi nylon; 01 (Một) chai nhựa, đã qua sử dụng; 01 (một) mũ bảo hiểm màu đen đã qua sử dụng; 01 (một) nón kết màu trắng có chữ đen đỏ đã qua sử dụng; 01 (một) áo thun nam Polo ngắn tay màu đen có chữ máu trắng có cổ đã qua sử dụng; 01 (một) quần Jean lửng nam màu xanh đã qua sử dụng; 01 (một) mũ bảo hiểm màu đen có dòng chữ We Will Rock you, đã qua sử dụng; 01 (một) áo thun nam tay ngắn màu xanh sọc đen và trắng, đã qua sử dụng; 01 (một) quần Jean nam dài màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (một) áo sơ mi nam ngắn tay màu xám, đã qua sử dụng.

[10] Đối với anh Ngũ Vỹ H4 biết xe do các bị cáo trộm cắp đã yêu cầu các bị cáo trả xe cho anh Dương Nguyên K1 nên cơ quan điều tra không xử lý đối với anh Ngũ Vỹ H4 là phù hợp.

[11] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Ngoài ra, bị cáo Đinh Quốc C phải chịu án phí trách nhiệm dân sự.

[12] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a Khoản 4 Điều 173; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; điểm g Khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Đinh Quốc C 14 (mười bốn) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 06/3/2023.

2. Căn cứ điểm a Khoản 3 Điều 173; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52 ; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Phan Công D 08 (tám) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 06/3/2023.

3. Căn cứ điểm a Khoản 3 Điều 173, điểm a khoản 3 Điều 323, Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Trần Minh T 07 (bảy) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 07 (bảy) năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Bị cáo phải chịu hình phạt chung cho cả hai tội là 14 (mười bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/3/2023.

4. Căn cứ Điều 48 Bộ lật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 584, 589 Bộ luật dân sự năm 2015:

Buộc bị cáo Đinh Quốc C phải bồi thường cho anh Hứa Huỳnh Nhật H3 số tiền 13.750.000đồng (mười ba triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).

5. Căn cứ điều Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 xe hai bánh gắn máy, nhãn hiệu Honda, số loại Vision, dung tích xi lanh: 109,5 biển số 59T2-479.08, số khung: RLHJK0310MZ325509, số máy TK03E-6037762, (không gương, dàn nhựa bể, xe cũ rỉ sét, máy móc bên trong không kiểm tra); 01 điện thoại di động Pixel 3a XL, màu trắng, số IMEI: 359643093427080, đã qua sử dụng (thực nhận 01 điện thoại có chữ G ở lưng, màu trắng, bể màn hình, không kiểm tra đời máy, I do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong); 01 điện thoại di động Redmi màu xanh, mặt kính bị nứt, đã qua sử dụng (Model:C3LG, bể màn hình, không kiểm tra đời máy, I do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong).

Tịch thu tiêu hủy: 01 thùng giấy được dán niêm phong (bên trong có 01 túi xách vải (dạng ba lô) màu đen - đỏ; 01 kìm cộng lực màu xanh, tay nắm nhựa màu đen dài 75cm; 01 ổ khóa màu đen, có dấu vết cắt. Không kiểm tra số lượng, tình trạng tang vật bên trong niêm phong; 01 mũ vải màu đen, đã qua sử dụng; 01 mũ bảo hiểm màu đen, đã qua sử dụng; 01 ổ khóa kim loại màu trắng có chữ YETI, móc khóa bị cắt; 01 túi nylon; 01 chai nhựa, đã qua sử dụng; 01 mũ bảo hiểm màu đen đã qua sử dụng; 01 nón kết màu trắng có chữ đen đỏ đã qua sử dụng; 01 áo thun nam Polo ngắn tay màu đen có chữ máu trắng có cổ đã qua sử dụng; 01 quần Jean lửng nam màu xanh đã qua sử dụng; 01 mũ bảo hiểm màu đen có dòng chữ We Will Rock you, đã qua sử dụng; 01 áo thun nam tay ngắn màu xanh sọc đen và trắng, đã qua sử dụng; 01 quần Jean nam dài màu xanh, đã qua sử dụng; 01 áo sơ mi nam ngắn tay màu xám, đã qua sử dụng.

Trả lại ông Ngũ Vỹ H4: 01 điện thoại di dộng Redmi Note 11 màu đen, đã qua sử dụng (Model: 17TG, không kiểm tra đời máy, I do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong)

(Theo biên bản giao nhận tang tài vật số NK2024/171 ngày 23/2/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh).

5. Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:

Các bị cáo Phan Công D,Trần Minh T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Đinh Quốc C phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 687.500 đồng (sáu trăm tám mươi bảy nghìn năm trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Các bị cáo quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao; (1)
  • - TAND cấp cao tại TP. HCM; (1)
  • - VKSND TP. HCM; (3)
  • - Cục Thi hành án dân sự; (1)
  • - Sở tư pháp; (1)
  • - Trại giam; (3)
  • - Bị cáo; (3)
  • - Bị hại; (1)
  • - Thi hành án hình sự; (2)
  • - Phòng PV06 - CA TP. HCM; (1)
  • - UBND nơi bị cáo cư trú; (3)
  • - Lưu: VT, THS, hồ sơ; (25) (5)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Thương Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 216/2024/HS-ST ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm (về tội trộm cắp tài sản và chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)

  • Số bản án: 216/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Về tội Trộm cắp tài sản và Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Đinh Quốc C 14 năm tù; bị cáo Phan Công D 8 năm tù.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger