Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 216/2025/HS-ST

Ngày: 25-6-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thảo

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Vân

Bà Lê Thị Phương Hồ

- Thư ký phiên tòa: Bà Quang Thị Thùy Ly – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Chung – Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Củ Chi tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 156/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 190/2025/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 112/2025/HSST-QĐ ngày 10 tháng 6 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Võ Văn T, sinh năm 1993 tại tỉnh Long An; nơi thường trú và nơi ở hiện nay: Số B đường L, ấp Đ, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn Đ (đã chết) và bà Lão Thị S (đã chết); Vợ tên Nguyễn Thị Q và có 2 con (lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2017); Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/02/2025. (Có mặt)

- Bị hại: Công ty Cổ phần C.

Địa chỉ liên hệ: Lô B, Khu công nghiệp T, ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của bị hại: Bà Thái Ngọc H; Địa chỉ: A Block A G - V, 854-856 T-Q B, Phường E, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. (có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Võ Văn T và Lê Công P là công nhân sản xuất chai nhựa tại xưởng 3 Công ty C. Vào tháng 11/2022, T và P khai không nhớ rõ ngày, khoảng 03 giờ sáng, trong lúc làm việc, P rủ T vào nhà kho của xưởng số 3 lấy trộm dây điện đem bán lấy tiền tiêu xài, T đồng ý. Sau đó, T dùng tua vít sửa máy sản xuất tại nơi làm việc, đến nhà kho vặn ốc mở cửa sổ, cả 02 đột nhập vào nhà kho lấy trộm khoảng 04-05 mét dây điện màu đen có 01 lõi đồng, đem ra phía hàng rào Công ty ném ra ngoài hàng rào. Đến 06 giờ 00 sáng cùng ngày, sau khi tan ca làm việc, T một mình điều khiển xe mô tô biển số 59Y2-946.54 đến hàng rào Công ty lấy số dây điện trộm được đem về khu nghĩa địa cách nhà T khoảng 20 mét cất giấu. Sau đó, T bán số dây điện trộm được cho người mua ve chai dạo (không rõ họ, tên) với số tiền 65.000đ/kg, tổng cộng 30kg được số tiền 1.950.000 đồng. Khi vào công ty làm việc, T chia cho P số tiền 950.000 đồng, T giữ lại 1.000.000 đồng khám chữa bệnh cho con là Võ Nguyễn Hoàng Quốc H1 (bị bệnh động kinh và lệch chất xám, phải khám và điều trị tại Bệnh viện hàng tháng). Căn cứ Kết luận định giá tài sản là 90.000đ x 30kg = 2.700.000 đồng.

Lần 2: Bằng thủ đoạn tương tự, vào tháng 02/2023, khoảng 02-03 giờ sáng, một mình T sử dụng tua vít mở cửa sổ đột nhập vào nhà kho lấy trộm khoảng 02-03 mét dây điện đem về khu nghĩa địa gần nhà cất giấu và bán lại cho người mua ve chai dạo số tiền 60.000đ/kg, tổng cộng 18kg được số tiền 1.080.000 đồng. Căn cứ Kết luận định giá tài sản là 90.000₫ x 18kg = 1.620.000 đồng.

Lần 3: Cách lần thứ 2 khoảng 15 ngày, khoảng 02-03 giờ sáng, T sử dụng tua vít tiếp tục mở cửa sổ đột nhập vào nhà kho lấy trộm 20kg dây điện đem về khu nghĩa địa gần nhà cất giấu, sau đó bán lại cho người mua ve chai dạo với số tiền 70.000đ/kg, tổng thành tiền 1.400.000 đồng. Căn cứ Kết luận định giá tài sản là 90.000đ x 20kg = 1.800.000 đồng.

Phát hiện Công ty thường xuyên mất trộm dây điện, ngày 16/4/2023, Công ty C lắp đặt camera theo dõi trong nhà kho, qua xem xét camera phát hiện T đột nhập vào nhà kho vào ngày 17/4/2023, do nghi ngờ T đã lấy trộm dây điện của Công ty nên trình báo Công an xã T.

Qua làm việc, T và P đã thừa nhận hành vi phạm tội nêu trên.

Kết luận định giá tài sản số 208/KL-HĐĐGTS ngày 13/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, kết luận: 68kg dây dẫn điện màu đen, có 01 lõi đồng bên trong, hiệu Cable 1Cx250mm², có giá là 90.000 đ/kg trị giá 6.120.000 đồng.

Vật chứng: 68 kg dây dẫn điện màu đen, có 01 lõi đồng bên trong, hiệu Cable 1Cx250mm2, chưa thu hồi được; một cây tua vít bằng kim loại dài khoảng 30cm, cán nhựa màu đỏ đen là dụng cụ của Công ty C phát cho công nhân làm việc, T sử dụng mở cửa đột nhập vào xưởng nhằm thực hiện hành vi trộm cắp. Cơ quan điều tra đã trả cho chủ sở hữu.

Về dân sự: Công ty Cổ phần C không yêu cầu bị cáo bồi thường.

Tại Bản cáo trạng số 219/CT-VKS.CC ngày 24/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố bị cáo Võ Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà:

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và đồng ý với Bản kết luận định giá tài sản số 91/KL-HĐĐGTS ngày 10/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi thực hiện quyền công tố tại phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, trình bày lời luận tội, đánh giá tính chất, mức độ và hậu quả nguy hiểm cho xã hội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Võ Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”; áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù giam.

Về vật chứng: Đối với số dây dẫn điện chưa thu hồi được, bị hại không có ý kiến và yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với một cây tua vít đã được cơ quan điều tra đã trả cho chủ sở hữu là đúng quy định.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét

Đối với số tiền thu lợi bất chính đề nghị tịch thu sung quỹ.

* Bị cáo không có lời bào chữa, không có ý kiến tranh luận với phần luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi.

* Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất ăn năn hối cải, xin được giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
  2. Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị hại cùng các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Từ đó đủ cơ sở kết luận: Vào tháng 11/2022, khi làm việc trong xưởng số 03 của Công ty Cổ phần C tại ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, Võ Văn T cùng Lê Công P đã lén lút trộm cắp 30 kg dây điện màu đen, có 01 lõi đồng bên trong, hiệu Cable 1Cx250mm2 có giá 90.000đ/kg, theo Kết luận định giá tài sản, tổng giá trị tài sản bị lấy trộm là 2.700.000 đồng.

Ngoài ra, với thủ đoạn tương tự như trên, một mình bị cáo T lén lút trộm thêm 2 lần, lần 2 vào khoảng tháng 02/2023 trộm được 18kg theo Kết luận định giá tài sản là 90.000đ x 18kg = 1.620.000 đồng. Lần thứ 3 cách lần thứ 2 khoảng 15 ngày, bị cáo trộm được 20kg theo Kết luận định giá tài sản là 90.000đ x 20kg = 1.800.000 đồng. Tuy nhiên những trộm này không đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự.

Với hành vi nêu trên, có đủ cơ sở kết luận bị cáo T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

  1. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của tổ chức được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây ảnh hưởng đến đời sống và sinh hoạt tại địa phương. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo nhận thức rõ việc bị cáo lén lút chiếm đoạt tài sản sẽ bị pháp luật trừng trị nhưng bị cáo vẫn ngang nhiên đi đến hành động phạm tội chỉ vì cần tiền tiêu xài nhằm thoả mãn nhu cầu của cá nhân của bị cáo. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung trong xã hội.
  2. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
  3. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo là lao động chính trong gia đình nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
  4. Về xử lý vật chứng:

    - Đối với 68 kg dây dẫn điện màu đen chưa thu hồi được, bị hại không có ý kiến và không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

    - Đối với một cây tua vít bằng kim loại dài khoảng 30cm, cán nhựa màu đỏ đen là dụng cụ bị cáo sử dụng mở cửa đột nhập vào xưởng nhằm thực hiện hành vi trộm cắp, Cơ quan điều tra đã trả cho chủ sở hữu là đúng quy định.

  5. Về số tiền thu lợi bất chính: Bị cáo T thừa nhận thu lợi bất chính từ 3 lần trộm được số tiền 3.480.000 đồng nên cần buộc bị cáo nộp số tiền này để sung quỹ nhà nước.
  6. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
  7. Đối với Lê Công P chưa bắt được, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra Quyết định tách vụ án hình sự số 763A/QĐ-ĐTTH ngày 24/02/2025 để tiếp tục điều tra, xử lý theo quy định và quyết định truy nã số 763A/QĐTN-ĐTTH ngày 24/02/2025, khi nào bắt được xử lý sau, là có căn cứ.

[9] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố: Bị cáo Võ Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Xử phạt bị cáo Võ Văn T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/02/2025.

  2. Buộc bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 3.840.000 đồng để tịch thu sung quỹ nhà nước
  3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2014.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - VKSND HCC;
  • - Chi cục THADS HCC;
  • - THAHS;
  • - Phòng PC53;
  • - Sở Tư pháp TP.HCM;
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Lưu: VP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 216/2025/HS-ST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 216/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào tháng 11/2022, khi làm việc trong xưởng số 03 của Công ty Cổ phần Công nghiệp Dịch vụ Thương mại Ngọc Nghĩa tại ấp Bàu Tre 2, xã Tân An Hội, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh, Võ Văn Tùng cùng Lê Công Phong đã lén lút trộm cắp 30 kg dây điện màu đen, có 01 lõi đồng bên trong, hiệu Cable 1Cx250mm2 có giá 90.000đ/kg, theo Kết luận định giá tài sản, tổng giá trị tài sản bị lấy trộm là 2.700.000 đồng.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger