Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 11 - NINH BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 216/2025/HNGĐ - ST

Ngày: 05 - 12 - 2025.

V/v ly hôn giữa chị Hiền và anh Hưng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Hùng Phương.

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Vũ Mạnh Toàn.
  2. Bà Dương Thị Vui.

- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Tuấn Tú – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 11 – Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Hồng Gấm – Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 11 – Ninh Bình mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 125/2025/TLST - HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2025. Về tranh chấp xin ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 2002;

Địa chỉ: Xóm B, xã H, tỉnh Ninh Bình.

* Bị đơn: Anh Đào Văn H1, sinh năm 1989;

Địa chỉ: Xóm B, xã H, tỉnh Ninh Bình.

Tại phiên tòa vắng mặt chị H, anh H1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu H vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Trong đơn khởi kiện cũng như lời khai chị Nguyễn Thị Thu H trong quá trình giải quyết vụ án thể hiện: Chị kết hôn với anh Đào Văn H1 vào tháng 12/2020 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nam Định (nay là xã H, tỉnh Ninh Bình). Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2024 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, không hòa hợp trong hôn nhân dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Đến tháng 12/2024 vợ chồng chị sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị xác định tình cảm giữa chị và anh H1 không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên chị đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 11 – Ninh Bình xem xét giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đào Văn H1.

Về con chung: Giữa chị và anh H1 có hai con chung là cháu Đào Ngọc H2, sinh ngày 21/12/2019 và cháu Đào Quốc H3, sinh ngày 09/02/2022 (Hiện hai con đang do anh H1 chăm sóc nuôi dưỡng). Ly hôn chị có quan điểm để anh H1 trực tiếp nuôi cả hai con chung và chị không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh H1.

Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về án phí chị Nguyễn Thị Thu H đề nghị giải quyết theo quy định.

Tại phiên toà hôm nay bị đơn anh Đào Văn H1 vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Lời khai của anh H1 tại các buổi làm việc với Tòa án thể hiện: Anh kết hôn với chị Nguyễn Thị Thu H vào tháng 12/2020 kết hôn tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nam Định (nay là xã H, tỉnh Ninh Bình). Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến đầu năm 2025 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân. Đến tháng 4/2025 thì chị H tự ý bỏ đi, mặc dù anh đã tìm gọi chị H về đoàn tụ nhưng chị H không về. Vợ chồng anh sống ly thân nhau từ đó cho đến nay. Nay chị H xin ly hôn, anh có quan điểm tùy quyết định của chị H.

Về con chung: Giữa anh và chị H có hai con chung là cháu Đào Ngọc H2, sinh ngày 21/12/2019 và cháu Đào Quốc H3, sinh ngày 09/02/2022 (Hiện hai con đang do anh chăm sóc nuôi dưỡng). Ly hôn anh xin nhận trực tiếp nuôi hai con chung và không yêu cầu chị H phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh.

Về tài sản chung: Anh H1 xác định vợ chồng không có.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:

  • + Về tố tụng: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến xét xử tại phiên toà hôm nay Thẩm phán thụ lý giải quyết cũng như Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • + Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 56; 81; 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 6 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thu H và chị Đào Văn H1; Về con chung: Giao cháu Đào Ngọc H2, sinh ngày 21/12/2019 và cháu Đào Quốc H3, sinh ngày 09/02/2022 cho anh Đào Văn H1 trực tiếp nuôi dưỡng. Chị H không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh H1; Về án phí dân sự sơ thẩm: chị H phải nộp theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu H và bị đơn anh Đào Văn H1 vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị H và anh H1 là phù hợp với khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: Cuộc hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Thu H và anh Đào Văn H1 vào tháng 12/2020 kết hôn tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nam Đinh (nay là xã H, tỉnh Ninh Bình) là một hôn nhân tự do, tiến bộ và có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2024 vợ chồng anh chị phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chống bất đồng về quan điểm không hiểu nhau. Đến tháng 4/2025 vợ chồng chị H anh H1 sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 11 – Ninh Bình giải quyết vợ chồng được ly hôn. Phía anh H1 có quan điểm tùy chị H quyết định. Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa có quan điểm xử ly hôn giữa chị H và anh H1.

Hội đồng xét xử thấy: Trên thực tế mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh H1 đã kéo dài và ngày một trầm trọng, hôn nhân đã tan vỡ, nay chị H xin ly hôn anh H1 nên chấp nhận là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Chị Nguyễn Thị Thu H và anh Đào Văn H1 đều thống nhất xác định vợ chồng có hai con chung là cháu Đào Ngọc H2, sinh ngày 21/12/2019 và cháu Đào Quốc H3, sinh ngày 09/02/2022 (Hiện hai con chung đang do anh H1 chăm sóc nuôi dưỡng). Ly hôn chị H và anh H1 thống nhất giao con chung là cháu Đào Ngọc H2, sinh ngày 21/12/2019 và cháu Đào Quốc H3, sinh ngày 09/02/2022 cho anh Đào Văn H1 trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Chị H không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cúng anh H1. Thấy việc quan điểm của chị H và anh H1 là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên chấp nhận.

[4] Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Thu H và anh Đào Văn H1 đều xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm chị Nguyễn Thị Thu H phải nộp theo quy định của pháp luật.

[6] Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Ninh Bình là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 56; 81; 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 147; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 6 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q;

  1. Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thu H và anh Đào Văn H1.
  2. Về con chung: Xử giao con chung của vợ chồng là cháu Đào Ngọc H2, sinh ngày 21/12/2019 và cháu Đào Quốc H3, sinh ngày 09/02/2022 cho anh Đào Văn H1 trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Thị Thu H không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh H1. Không ai được ngăn cản quyền chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng và thăm nom con chung. (Hiện hai con chung đang do anh H1 chăm sóc nuôi dưỡng).
  3. Án phí dân sự sơ thẩm chị Nguyễn Thị Thu H phải nộp 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp theo biên lai số 0001481 ngày 09/10/2025 tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 11 - Ninh Bình, chị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt nguyên đơn và bị đơn. Báo cho người vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tỉnh;
  • - VKSND Khu vực 11;
  • - THADS tỉnh;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Hồng Phong;
  • - Lưu văn phòng; HSVA.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Đã ký

Phạm Hùng Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 216/2025/HNGĐ - ST ngày 05/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - NINH BÌNH về ly hôn giữa chị hiền và anh hưng

  • Số bản án: 216/2025/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn giữa chị Hiền và anh Hưng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị Thu H xin ly hôn anh Đào Văn H1
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger