|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 TỈNH AN GIANG Bản án số: 216/2025/DS-ST Ngày: 30-12-2025 V/v tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhung.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bích Ngọc, ông Nguyễn Văn Ngân.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thái Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Trương Minh Thiện - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 131/2025/TLST-DS ngày 13 tháng 10 năm 2025 về việc tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2025/QĐXXST-DS ngày 24/11/2025 và quyết định hoãn phiên toà số: 41/2025/QĐST-DS ngày 12/12/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V (V1).
- Địa chỉ trụ sở: số H L, phường Đ, Thành phố Hà Nội.
- Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D - Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
- Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Tấn S, ông Nguyễn Minh H và ông Lý Nhựt H1 – Chuyên viên xử lý nợ Ngân hàng TMCP V. Địa chỉ liên lạc: Tầng D, Số A T, phường L, tỉnh An Giang (Văn bản ủy quyền số 5068/2025/UQ-VPB ngày 26/9/2025).
- Bị đơn: Chị Trần Thị Trúc L, sinh năm 1994. Căn cước công dân số: [...]. Nơi cư trú: tổ G, ấp P, xã P, tỉnh An Giang.
(Ông H có mặt, chị L vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, ông Nguyễn Minh H đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày:
+ Ngày 12/02/2022, tại Ngân hàng TMCP V – chi nhánh Q, Thành phố Hồ Chí Minh, chị Trần Thị Trúc L ký kết hợp đồng vay tiêu dùng cá nhân, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, phát hành và sử dụng thẻ ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử số LN2212027662522 với hạn mức 20.000.000 đồng, mục đích vay: phục vụ nhu cầu đời sống, thời hạn vay 60 tháng, lãi suất 39.48%%/năm. Sau khi cấp tín dụng, giải ngân tiền cho khách hàng đến ngày 12/10/2024 thì chị L vi phạm nghĩa vụ hợp đồng và chuyển nợ quá hạn.
+ Ngày 05/01/2023, tại Ngân hàng TMCP V – chi nhánh Q, Thành phố Hồ Chí Minh, chị Trần Thị Trúc L đã ký hợp đồng vay số LN2301048048660 hạn mức 40.000.000 đồng, mục đích vay phục vụ nhu cầu đời sống, thời hạn vay 36 tháng, lãi suất 30%/năm. Quá trình thực hiện hợp đồng, chị L chỉ thanh toán cho ngân hàng 33.780.147 đồng, trong đó nợ gốc 17.498.053 đồng, nợ lãi 16.281.601 đồng. Đến ngày 16/9/2024 thì chị L vi phạm nghĩa vụ thực hiện hợp đồng, bị chuyển sang nợ quá hạn.
Đại diện ngân hàng có liên hệ đôn đốc, nhắc nhở chị Trần Thị Trúc L thanh toán nợ cho ngân hàng nhưng vẫn không thực hiện, nhận thấy chị L đã vi phạm nghĩa vụ thực hiện hợp đồng, nay Ngân hàng TMCP V (V1) yêu cầu chị Trần Thị Trúc L có nghĩa vụ thanh toán dứt điểm một lần tổng số tiền 70.682.420 đồng (bằng chữ: bảy mươi triệu sáu trăm tám mươi hai nghìn bốn trăm hai mươi đồng), trong đó nợ gốc 42.468.254 đồng, nợ lãi 28.214.166 đồng tính đến ngày 30/12/2025, tiếp tục tính lãi phát sinh theo thỏa thuận tại các hợp đồng đã ký kết kể từ ngày 31/12/2025 cho đến khi thanh toán hết nợ cho V1.
Đối với bị đơn chị Trần Thị Trúc L: Tòa án đã triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải, xét xử nhưng vắng mặt không có lý do, không gửi văn bản trình bày ý kiến.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang phát biểu:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Về tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Thư ký phiên tòa đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật. Việc tuân theo pháp luật của nguyên đơn thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng không đến tham dự phiên tòa, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, đã không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc chị Trần Thị Trúc L có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP V tổng số tiền 70.682.420 đồng, trong đó nợ gốc 42.468.254 đồng, nợ lãi 28.214.166 đồng tính đến ngày 30/12/2025 và lãi phát sinh cho đến khi thi hành xong số tiền phải thanh toán theo mức lãi suất của hợp đồng số LN2212027662522 ngày 12/02/2022 và hợp đồng số LN2301048048660 ngày 05/01/2023. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải thanh toán theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền vay phát sinh từ hợp đồng tín dụng, mục đích vay tiêu dùng, nên đây là tranh chấp dân sự về “Hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại xã P, tỉnh An Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang theo điểm a, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn Trần Thị Trúc L đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên căn cứ các Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt chị L.
[2] Về nội dung:
Vào ngày 12/02/2022, chị Trần Thị Trúc L và Ngân hàng TMCP V ký kết hợp đồng vay số LN2212027662522, hạn mức 20.000.000 đồng và hợp đồng số LN2301048048660 ngày 05/01/2023, hạn mức 40.000.000 đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng, chị L chỉ thanh toán số tiền là 33.780.147 đồng, trong đó nợ gốc 17.498.053 đồng, nợ lãi 16.281.601 đồng thì ngưng trả vốn và lãi, chuyển sang nợ quá hạn đến nay. Xét thấy, các hợp đồng này được các bên xác lập và ký kết trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có hình thức và nội dung, mục đích không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội, thoả thuận lãi suất trong hợp đồng không trái với quy định tại Điều 357, Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015các Điều 91, 95, 98 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên có hiệu lực pháp luật và các bên phải có nghĩa vụ thực hiện theo đúng cam kết. Quá trình giải quyết vụ án, chị L đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Toà án nhưng vắng mặt không có lý do, không có ý kiến phản đối nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Căn cứ Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015, buộc chị Trần Thị Trúc L có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP V tổng số tiền 70.682.420 đồng, trong đó nợ gốc 42.468.254 đồng, nợ lãi 28.214.166 đồng và lãi phát sinh cho đến khi thi hành xong số tiền phải thanh toán theo mức lãi suất thảo thuận tại hợp đồng số LN2212027662522 ngày 12/02/2022 và hợp đồng số LN2301048048660 ngày 05/01/2023.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên chị L phải chịu án phí 3.534.000 đồng (70.682.420 đồng x 5%) theo Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227; Điều 228, Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 357, 463, 466 của Bộ luật dân sự 2015; các Điều 91, 95, 98 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần V đối với bị đơn chị Trần Thị Trúc L về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.
Buộc chị Trần Thị Trúc L có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP V tổng số tiền là 70.682.420 đồng (bằng chữ: bảy mươi triệu sáu trăm tám mươi hai nghìn bốn trăm hai mươi đồng), trong đó nợ gốc 42.468.254 đồng, nợ lãi 28.214.166 đồng tính đến ngày 30/12/2025.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, chị Trần Thị Trúc L phải tiếp tục trả khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng số LN2212027662522 ngày 12/02/2022, số LN2301048048660 ngày 05/01/2023 cho đến khi thanh toán hết số nợ gốc cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ngân hàng Thương mại Cổ phần V không phải chịu án phí và được hoàn lại 1.450.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 003045 ngày 26/09/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.
- Chị Trần Thị Trúc L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 3.534.000 đồng
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Hội thẩm nhân dân | Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà |
4
Bản án số 216/2025/DS-ST ngày 30/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 216/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
