|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỈNH G Bản án số: 216/2024/HS-ST Ngày: 30-10-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH G
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài Thơ.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Túy Uyển và ông Ngô Xuân Dệt.
- Thư ký phiên toà: Ông Đặng Đại Bình - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh G.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh G tham gia phiên tòa:
Bà Lương Thị Thái Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 10 năm 2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh G xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 212/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 210/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Anh Q; sinh năm 2002, tại tỉnh G; nơi thường trú: 01 P, tổ A, phường T, thành phố P, tỉnh G; nơi ở trước khi bị bắt: Hẻm C L, tổ A, phường Y, thành phố P, tỉnh G; nghề nghiệp: Thợ sơn; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn H (đã chết) và bà Nguyễn Thị H1; chưa có vợ, con; tiền án: 01 - Tại Bản án số 146/2021/HSST ngày 04/11/2021, của Tòa án nhân dân thành phố P, xét xử tuyên phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự); chấp hành án tại trại giam G - Bộ C1. Ngày 29/10/2022, chấp hành xong hình phạt tù (chưa được xóa án tích); tiền sự: Không. Bị tạm giữ từ ngày 27/6/2024 đến ngày 06/7/2024, sau đó bị áp dụng biện pháp tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P. Có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Vũ Thành C, sinh năm 1973. Địa chỉ Hẻm C L, tổ A, phường Y, thành phố P, tỉnh G. Vắng mặt.
- Người chứng kiến: Anh Nguyễn Công T, sinh năm 2003. Địa chỉ: Tổ A, phường Y, thành phố P, tỉnh G. Vắng mặt.
- Người tham gia tố tụng khác: Không.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Anh Q sử dụng chất ma túy (loại Methamphetamine) từ khoảng thời gian đầu năm 2021. Thông qua các mối quan hệ xã hội, Q có được số điện thoại của 01 đối tượng Tịt (không rõ nhân thân, lai lịch) có bán ma túy. Vào khoảng 10 giờ ngày 27/6/2024, Q gọi điện thoại cho T1 hỏi mua ma túy, T1 đồng ý và hẹn gặp nhau tại khu vực công viên đường N, phường H, thành phố P, tỉnh G. Sau đó, Q đi xe ôm của một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) chở đi đến chỗ hẹn gặp và mua của T1 01 gói ma túy (loại Methamphetamine) với giá 300.000 đồng; Q cất giấu vào trong người rồi đi về phòng số 2 dãy nhà trọ tại hẻm C đường L, tổ A, phường Y, thành phố P, tỉnh G. Tại phòng trọ, Q đã tự làm các dụng cụ sử dụng ma túy, gồm: 01 chai bằng nhựa, 01 ống hút bằng nhựa, rồi lấy một ít ma túy để sử dụng; số còn lại, Q cất giấu trong sọt rác phía trước phòng trọ, với mục đích để khi cần thì lấy ra sử dụng. Đến 14 giờ cùng ngày, khi Q đang ở tại phòng trọ thì lực lượng Cảnh sát điều tra về Ma túy- Công an tỉnh G phối hợp lực lượng Cảnh sát điều tra về Ma túy- Công an thành phố P kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng, gồm: Thu giữ tại nền nhà cạnh nệm ngủ trong phòng 01 bộ dụng cụ gồm chai nhựa, trên nắp có gắn một đoạn ống hút bằng nhựa; 01 đoạn ống thủy tinh được uốn cong, một đầu phình ra (vỡ một phần) có bám dính chất màu trắng - nâu (đã tiến hành niêm phong theo quy định, ký hiệu 01) và 01 chiếc điện thoại Iphone màu xám, kèm thẻ sim (mặt sim có dãy số 89840 48000 90596 1694); Q đã lấy từ sọt rác trước phòng trọ 01 gói giấy bên trong có 01 gói nilon chứa chất màu trắng, dạng tinh thể và giao nộp (đã tiến hành niêm phong theo quy định, ký hiệu 02).
Qua xét nghiệm, xác định: Lê Anh Q dương tính với chất ma túy loại Methamphetamine.
Qua trưng cầu giám định, tại Bản kết luận giám định số 653/KL-KTHS ngày 05/7/2024 của phòng K - Công an tỉnh G, kết luận: “Chất màu trắng, nâu bám dính trong 01 (một) ống thủy tinh có đầu uốn cong, phình to (hình cầu) trong bì công văn ghi “(01)” gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, do lượng mẫu ít không cân được khối lượng. Chất màu trắng dạng tinh thể trong 01 (một) gói nilon trong bì công văn ghi “(2)” gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,1755 gam".
Đối với chiếc điện thoại di động hiệu Iphone màu xám kèm thẻ sim là của bị cáo và bị cáo đã sử dụng liên lạc để mua ma túy; 01 chai nhựa, 01 đoạn ống hút bằng nhựa và 01 đoạn ống thủy tinh được uốn cong, một đầu phình ra (vỡ một phần) là các công cụ bị can dùng để sử dụng chất ma túy.
Vật chứng vụ án, gồm:
- + 01 đoạn ống thủy tinh được uốn cong, một đầu phình ra (vỡ một phần) sau giám định cùng vỏ bao gói trong 01 bì dán kín ghi số “1” và số 653/PC09 ngày 05/7/2024, có dấu niêm phong của phòng K - Công an tỉnh G;
- + Chất ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định cùng vỏ bao gói trong 01 bì dán kín ghi số “2” và số 653/PC09 ngày 05/7/2024, có dấu niêm phong của phòng K - Công an tỉnh G;
- + 01 chiếc điện thoại Iphone màu xám, kèm thẻ sim (mặt sim có dãy số 89840 48000 90596 1694);
- + 01 chai nhựa trên nắp có gắn 01 đoạn ống hút bằng nhựa.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như trên và không có ý kiến gì khác.
Tại bản Cáo trạng số 227/CT-VKS ngày 10 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh G truy tố bị cáo Lê Anh Q, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hình phạt:
Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Lê Anh Q từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/6/2024.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung.
Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự đề nghị: Tịch thu tiêu hủy chất ma túy còn lại sau giám định trong 01 bì dán kín ghi số “2” và số 653/PC09 ngày 05/7/2024, có dấu niêm phong của phòng K - Công an tỉnh G, 01 đoạn ống thủy tinh được uốn cong, một đầu phình ra (vỡ một phần) sau giám định cùng vỏ bao gói trong 01 bì dán kín ghi số “1” và số 653/PC09 ngày 05/7/2024, có dấu niêm phong của phòng K - Công an tỉnh G, 01 chai nhựa trên nắp có gắn 01 đoạn ống hút bằng nhựa và thẻ sim (mặt sim có dãy số 89840 48000 90596 1694). Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone màu xám.
Về án phí:
Buộc bị cáo Lê Anh Q phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đồng ý với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Bị cáo nói lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án.
Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
Căn cứ vào các tình tiết, chứng cứ nêu trên,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên thành phố P, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, Kiểm sát viên thành phố P trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận:
Lê Anh Q sử dụng ma túy loại Methamphetamine từ khoảng thời gian đầu năm 2021. Khoảng 10 giờ ngày 27/6/2024, tại khu vực công viên đường N, phường H, thành phố P, tỉnh G, Q đã mua của đối tượng tên T1 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) 01 gói nilon có chứa chất màu trắng, dạng tinh thể với giá 300.000 đồng rồi đem về phòng số 2 dãy nhà trọ hẻm C đường L, tổ A, phường Y, thành phố P, tỉnh G. Sau đó, Q đã lấy một ít ma túy ra sử dụng; số ma túy còn lại, Q cất giấu trong sọt rác phía trước phòng trọ, với mục đích để sử dụng sau. Đến 14 giờ ngày 27/6/2024, khi Q đang ở phòng trọ thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra về Ma túy - Công an tỉnh G phối hợp lực lượng Cảnh sát điều tra về Ma túy- Công an thành phố P bắt quả tang cùng vật chứng.
Qua giám định, xác định: 01 gói nilon có chứa chất màu trắng, dạng tinh thể mà Lê Anh Q đã tàng trữ để sử dụng là Methamphetamine, khối lượng 0,1755 gam.
Hành vi tàng trữ 0,1755 gam ma túy loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng, do bị can Lê Anh Q thực hiện như đã nêu trên là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm đến trật tự trị an xã hội. Do đó, hành vi của bị cáo Lê Anh Q đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân thành phố P đã truy tố là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và các yếu tố khác có liên quan nhằm xác định tội phạm và hình phạt:
Về nhân thân và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lê Anh Q có nhân thân xấu, đã bị kết án tại Bản án số 146/2021/HSST ngày 04/11/2021, của Tòa án nhân dân thành phố P, xét xử tuyên phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, đó là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra tại phiên tòa, bị cáo Lê Anh Q đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền quản lý sử dụng độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo Lê Anh Q là thanh niên có sức khỏe nhưng bị cáo đã đi vào con đường nghiện ngập sử dụng ma túy. Bản thân bị cáo nhận thức được tính nguy hiểm của việc sử dụng trái phép chất ma túy, nó không chỉ là tác nhân gây nguy hại lớn cho sức khoẻ của con người khi sử dụng, người dùng sẽ gặp ảo giác, hủy hoại trí óc và cơ thể nếu ai nghiện ngập nó mà còn là nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn và tội phạm xã hội khác.
Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo thành người có ích cho xã hội và phòng ngừa chung đối với tội phạm.
Đối với đối tượng tên T1 mà bị cáo Lê Anh Q khai là người đã bán ma túy: Do bị cáo không biết họ tên, nhân thân, lai lịch của người này; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã tiến hành mở danh bạ, nhật ký cuộc gọi, tin nhắn trong chiếc điện thoại đã thu giữ của bị cáo nhưng không xác định được số điện thoại của đối tượng này và nội dung liên quan đến việc mua bán chất ma túy. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau là có cơ sở.
[4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Lê Anh Q không có tài sản riêng, không đảm bảo thi hành án đối với hình phạt bổ sung là phạt tiền. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung.
[5] Về xử lý vật chứng:
Đối với chất ma túy còn lại sau giám định trong 01 bì dán kín ghi số “2” và số 653/PC09 ngày 05/7/2024, có dấu niêm phong của phòng K - Công an tỉnh G, 01 đoạn ống thủy tinh được uốn cong, một đầu phình ra (vỡ một phần) sau giám định cùng vỏ bao gói trong 01 bì dán kín ghi số “1” và số 653/PC09 ngày 05/7/2024, có dấu niêm phong của phòng K - Công an tỉnh G, 01 chai nhựa trên nắp có gắn 01 đoạn ống hút
bằng nhựa và thẻ sim (mặt sim có dãy số 89840 48000 90596 1694). Xét vật chứng không có giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone màu xám thuộc sở hữu của Lê Anh Q. Xét vật chứng là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung Ngân sách nhà nước.
[6] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự.
- - Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự;
- - Căn cứ Điều 106; 135; 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố: Bị cáo Lê Anh Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt: Bị cáo Lê Anh Q 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/6/2024.
- Về vật chứng: Tuyên:
- - Tịch thu sung Ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone màu xám.
- - Tịch thu tiêu hủy: 02 bì công văn dán kín ghi số 653/PC09 ngày 05/7/2024, đánh số “1” và “2” bên ngoài có dấu niêm phong của phòng K - Công an tỉnh G, 01 chai nhựa trên nắp có gắn 01 đoạn ống hút bằng nhựa và 01 sim số (mặt sim có dãy số 89840 48000 90596 1694).
Theo Biên bản V/v giao nhận vật chứng, tài sản ngày 17 tháng 10 năm 2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P, tỉnh G với Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P, tỉnh G.
- Về án phí: Buộc bị cáo Lê Anh Q phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
- Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 30/10/2024), bị cáo có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh G xét xử phúc thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hoài Thơ |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P TỈNH G |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi ... giờ ... phút, ngày 30 tháng 10 năm 2024.
Tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh G.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài Thơ.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Xuân Dệt và bà Trần Thị Túy Uyển.
Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 123/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:
Lê Anh Quốc; giới tính: Nam. Sinh năm 2002, tại G. Nơi thường trú: Số 01 đường Phan Đăng Lưu, Tổ 01, phường Thống Nhất, thành phố P, tỉnh G. Nơi tạm trú và nơi ở trước khi bị bắt: Hẻm 368 Lý Thái Tổ, Tổ 12, phường Yên Đỗ, thành phố P, tỉnh G.
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:
1. Về điều luật áp dụng:
- - Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự.
- - Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự;
- - Căn cứ Điều 106; 135; 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Kết quả biểu quyết: 3/3 = 100%.
2. Về tội danh:
Bị cáo Lê Anh Quốc phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Kết quả biểu quyết: 3/3 = 100%.
3. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Lê Anh Quốc .................................... tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/6/2024.
Kết quả biểu quyết: 3/3 = 100%.
4. Về vật chứng:
- - Tịch thu sung Ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone màu xám.
- - Tịch thu tiêu hủy: Chất ma túy còn lại sau giám định trong 01 bì dán kín ghi số “2” và số 653/PC09 ngày 05/7/2024, có dấu niêm phong của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh G, 01 đoạn ống thủy tinh được uốn cong, một đầu phình ra (vỡ một phần) sau giám định cùng vỏ bao gói trong 01 bì dán kín ghi số “1” và số 653/PC09 ngày 05/7/2024, có dấu niêm phong của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh G, 01 chai nhựa trên nắp có gắn 01 đoạn ống hút bằng nhựa và thẻ sim (mặt sim có dãy số 89840 48000 90596 1694).
Theo Biên bản V/v giao nhận vật chứng, tài sản ngày 17 tháng 10 năm 2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P, tỉnh G với Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P, tỉnh G.
Kết quả biểu quyết: 3/3 = 100%.
5. Về các vấn đề khác:
- - Về án phí: Bị cáo Lê Anh Quốc phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng).
- - Về quyền kháng cáo:
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 10/10/2024), bị cáo có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh G xét xử phúc thẩm.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc được niêm yết hợp lệ.
Kết quả biểu quyết: 3/3 = 100%.
Nghị án kết thúc vào hồi ... giờ ... phút, ngày 30 tháng 10 năm 2024.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 216/2024/HS-ST ngày 30/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH G về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 216/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH G
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Anh Q
