|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 216 /2024/HSST |
Ngày: 12/12/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Đình Trung
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Phạm Bá Xuân
2/ Bà Dương Thị Diễm
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thu Hương - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Vũ Ngọc Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2024, Tại điểm cầu trực tuyến phòng xét xử Tòa án nhân dân thành phố Hà nội và điểm cầu trực tuyến phòng xét xử Trại tạm giam số 01 – Công an thành phố Hà Nội, Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 192/2024/TLST-HS ngày 22/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 250/2024/QĐXXST-HS ngày 07/11/2024, Quyết định Hoãn phiên tòa số 259/2024/QĐHPT-HS ngày 21/11/2024 đối với bị cáo: Lê Ngọc S sinh năm 1992;
Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: số X K (Số cũ Y V), phường K, quận B, thành phố Hà Nội ; Nghề nghiệp : Tự do; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Lê Quang H và bà Nguyễn Bình M, Vợ Nguyễn Thị L sinh năm 1992; có 01 con sinh năm 2023; Tiền án: 02 tiền án: Bản án Hình sự số 62/2013/HSST ngày 22/3/2013 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng xử phạt Bị cáo Lê Ngọc S 34 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” chấp hành xong án phạt tù ngày 03/8/2015 (Chưa xóa án); Bản án Hình sự số 16/2016/HSST ngày 19/01/2016 của Tòa án nhân dân quận Long Biên xử phạt Bị cáo Lê Ngọc S 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” chấp hành xong án phạt tù ngày 03/8/2021 (Chưa xóa án); Tiền sự: 03 tiền sự: Năm 2006 Công an phường Kim Mã, quận ba Đình 02 lần xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản; ngày 04/4/2007 Ủy ban nhân dân quận Ba Đình đưa vào trường Giáo dưỡng; Nhân thân: Bản án Hình sự số 282/2010/HSST ngày 27/10/2010 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình và Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm của Tòa án Hà Nội xử phạt Bị cáo Lê Ngọc S 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” chấp hành xong án phạt tù ngày 28/8/2011 ( Đã xóa án); Bắt quả tang ngày 26/6/2024; Hiện đang tạm giam tại trại tạm giam số I – Công an thành phố Hà Nội; (Có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 26/06/2024, tại ngách H Đ, phường L, quận B, thành phố Hà Nội, Tổ công tác Công an phường L phát hiện bắt quả tang Lê Ngọc S và một nam thanh niên (chưa rõ lai lịch) đang có hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Qua kiểm tra S, phát hiện trong lòng bàn tay trái của S có 01 túi nilong bên trong chứa tinh thể màu trắng và 01 viên nén hình tròn. Tại chỗ, Lê Ngọc S khai nhận đó là ma túy “đá” và ma túy tổng hợp S mang đi để bán kiếm lời. Quá trình tổ công tác bắt giữ S, nam thanh niên mua ma túy của S đã vứt lại 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng dưới đất tại vị trí S đang đứng và bỏ chạy thoát. Tổ công tác đã đưa S về trụ sở Công an quận B để làm rõ.
Vật chứng thu giữ của Lê Ngọc S:
- 01 túi ni lông bên trong chứa tinh thể màu trắng và 01 viên nén màu hồng.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax màu tím đã qua sử dụng;
- 01 xe máy Honda Vision màu trắng không biển kiểm soát;
- Số tiền: 500.000 VNĐ.
Kết luận giám định số 4900/KLGĐ – PC09 ngày 05/07/2024 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận: “ Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilong có khối lượng 0,154 gam là ma túy loại Methamphetamine. 01 viên nén màu hồng có khối lượng 0,092 gam đều là ma túy loại Methamphetamine.”
Tại Cơ quan điều tra, Lê Ngọc S khai nhận: Bản thân S nghiện ma túy. Khoảng 15 giờ ngày 25/6/2024, một người đàn ông tên Tuấn A (tên gọi khác: M) sử dụng số điện thoại 0888.531.xxx gọi tới số điện thoại 0976.345.xxx của S rủ xuống T, Hà Nội để uống nước (S không nhớ địa chỉ cụ thể). Tại đây, Tuấn A bảo S xem có ai hỏi mua ma túy thì giới thiệu cho anh ta, S đồng ý và bảo nếu có khách thì S gọi cho Tuấn A. Sau khi ra về, S có xin Tuấn A một ít “ma túy đá” về để thử xem ma túy có ngon không sẽ giới thiệu cho khách. Tuấn A lấy từ trong người ra đưa cho S 01 túi nilong bên trong là ma túy đá và 01 viên hồng phiến. S cầm và cho túi ma túy đó vào túi quần và về nhà tại B V - K - B - Hà Nội.
Khoảng 13 giờ ngày 26/6/2024, có một người đàn ông sử dụng tài khoản zalo “Nam N” gọi cho S qua ứng dụng zalo để hỏi mua ma túy. Do cần tiền chi tiêu cá nhân nên S đồng ý bán cho “Nam N” số ma túy mà Tuấn A đã cho S với giá 500.000 đồng và hẹn giao dịch tại khu vực ngõ C Đ, B, Hà Nội. Khoảng 14h00 cùng ngày, S điều khiển xe máy Honda Vision màu trắng (không biển kiểm soát) đón Nguyễn Thị L (Sinh năm: 1993, Nơi ở: 27 V, K, B, Hà Nội, là vợ của S) đi có việc cá nhân. Khi đi S mang theo 01 túi nilong bên trong chứa ma túy đá và 01 viên ma túy hồng phiến để tiện đường qua ngõ C Đ bán cho “Nam N”. Khoảng 14h30 phút ngày 26/06/2024, khi S chở L đến trước cửa khách sạn A1 Đội Cấn tại ngách H Đ, B, Hà Nội thì gặp "Nam N" đang đứng ở đó. Khi “Nam N” lấy tiền ra đưa cho S, S chuẩn bị đưa ma túy thì bị phát hiện bắt quả tang như trên.
Lời khai của S phù hợp với lời khai của người làm chứng, người liên quan, kết quả kiểm tra điện thoại thu giữ của S, vật chứng thu giữ, hiện trường vụ án và các tài liệu khác có trong hồ sơ.
Đối với Nguyễn Thị L: S không nói cho L việc S mang ma túy đi bán. L không biết và không nhìn thấy việc S cầm túi nilong có ma túy bên trong. Qua kiểm tra, L không phát hiện thu giữ gì liên quan, xét nghiệm của L có kết quả âm tính với chất ma túy. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với L.
Đối với Tuấn A (tên gọi khác: M): Qua xác minh chủ sở hữu số thuê bao 0888531990 là Đặng Thị Lan H (Sinh năm: 1977, Nơi ở: Đ, Đ, H, Hà Nội). Tại Cơ quan điều tra, chị H trình bày không sử dụng số điện thoại trên và không biết ai đang sử dụng. Chị H không quen biết gì với Lê Ngọc S. Ngoài số điện thoại trên, S không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể của Tuấn A. Do không xác định được con người cụ thể nên Cơ quan điều tra không có căn cứ tiếp tục điều tra, xác minh.
Đối với người đàn ông sử dụng tài khoản zalo “Nam N”: Do không có thông tin cụ thể nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra, xác minh.
Đối với 01 xe máy Honda Vision màu trắng không có biển kiểm soát thu giữ của S: Qua xác minh xe máy trên có số khung 511029, số máy 2515418, biển kiểm soát 98M1-25877 mang tên Trần Thị H1 (Sinh năm: 2000, Địa chỉ: Q, Q, L, Bắc Giang). Đầu tháng 5/2024, chị H1 mua mới chiếc xe trên, đến cuối tháng 5/2024 bán lại cho ông Lê Quang H2 (là bố đẻ của Lê Ngọc S). Việc mua bán không có giấy tờ. Quá trình sử dụng ông H2 làm rơi biển kiểm soát chưa lắp lại và để xe máy trên ở nhà cho S cùng sử dụng. Ông H2 không biết việc S sử dụng xe máy để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Qua tra cứu, không phải xe vật chứng. Ngày 24/09/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe máy trên cho ông H2. Ông H2 đã nhận lại xe và không có ý kiến gì.
Tại bản cáo trạng số 192/CT-VKSBĐ ngày 22/10/2024 của Viện Kiểm Sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội Truy tố: Bị cáo Lê Ngọc S về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
Tại phiên tòa:
Bị cáo đã khai nhận tội như đã khai tại cơ quan điều tra, Bị cáo thừa nhận bản cáo trạng truy bố bị cáo đúng với hành vi bị cáo đã thực hiện. Bị cáo nhận thức hành vi phạm tội của mình và xin xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện Kiểm S1 tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử :
Căn cứ điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Đề nghị xử phạt bị cáo Lê Ngọc S từ 8 năm 06 tháng đến 9 năm tù; Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tịch thu tiêu hủy: 01 bao niêm phong bên trong có chứa chất 0,246 gam ma túy loại Methamphetamine; Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax màu tím đã qua sử dụng (Hiện đang lưu giữ tại kho vật chứng chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình, T theo biên bản giao vật chứng số 26 ngày 18/11/2024).
Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 500.000 đồng;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2017; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lê Ngọc S không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo Lê Ngọc S tại cơ quan điều tra và phù hợp với vật chứng đã thu giữ, phù hợp với lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 26/06/2024, tại ngách H Đ, phường L, B, Hà Nội, Lê Ngọc S đã có hành vi bán trái phép 0,246 gam chất ma túy loại methamphetamine cho người mua chưa xác định thì bị Tổ công tác Công an phường L phát hiện bắt quả tang. Hành vi của bị cáo Lê Ngọc S đã xâm phạm trật tự quản lý hành chính của cơ quan quản lý nhà nước về chất gây nghiện; Bị cáo Lê Ngọc S có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi có ý trực tiếp; Hành vi của bị cáo Lê Ngọc S đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; ); Bản án Hình sự số 62/2013/HSST ngày 22/3/2013 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng xử phạt Bị cáo Lê Ngọc S 34 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” chấp hành xong án phạt tù ngày 03/8/2015 (Chưa xóa án); Bản án Hình sự số 16/2016/HSST ngày 19/01/2016 của Tòa án nhân dân quận Long Biên xử phạt Bị cáo Lê Ngọc S 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” chấp hành xong án phạt tù ngày 03/8/2021 (Chưa xóa án) được xác định bị cáo Tái phạm do đó lần phạm tội này của Bị cáo Lê Ngọc S được xác định là tái phạm nguy hiểm được quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
[3]. Viện kiểm sát truy tố bị cáo Lê Ngọc S về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, và đúng quy định của pháp luật.
[4]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 03 tiền sự; Nhân thân: 01 tiền án đã xóa án; Vì vậy Bị cáo được xác định là có nhân thân xấu.
[5]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa hôm nay và tại cơ quan điều tra bị cáo khai báo thành khẩn, thực sự ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
[6]. Sau khi xem xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên, thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhấn định mới có tác dụng giáo dục và cải tạo đối với bị cáo.
[7]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, nên thấy cần miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[8]. Về xử lý vật chứng:
- 01 bao niêm phong bên trong có chứa chất 0,246 gam ma túy loại methamphetamine là vật cấm lưu hành thấy cần tịch thu tiêu hủy;
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax màu tím đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo là công cụ phương tiện phạm tội thấy cần tịch thu sung công quỹ nhà nước;
- 500.000 đồng thu giữ của bị cáo là tiền do phạm tội mà có thấy cần tịch thu sung công quỹ nhà nước;
Về án phí: Căn cứ Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016; Khoản 1 Mục I Danh mục mức án phí lệ phí Toà án: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2017;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
Căn cứ vào Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2017;
Căn cứ vào Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q ; Khoản 1 Mục I D mục mức án phí lệ phí Toà án.
Tuyên bố Bị cáo Lê Ngọc S phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”;
Xử phạt: Bị cáo Lê Ngọc S: 08 (T) năm tù; Thời hạn tù tính từ ngày 26/6/2024.
Miễn hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt tiền đối với bị cáo Lê Ngọc S.
Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 bao niêm phong bên trong có chứa chất 0,246 gam ma túy loại methamphetamine;
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax màu tím đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo; (Hiện đang lưu giữ tại kho vật chứng chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình, T theo biên bản giao vật chứng số 26 ngày 18/11/2024).
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 500.000 đồng thu giữ của bị cáo ( Giấy nộp tiền vào tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình ngày 18/11/2024);
Về án phí : Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Đình Trung |
Bản án số 216/2024/HSST ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 216/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xét xử về tội Mua bán trái phép chất ma túy
