Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN TÂN PHÚ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số : 216/2024/HSST

Ngày : 07/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Huỳnh Hoàng Phương;
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    • 1/ Bà Võ Kim Hường;
    • 2/ Bà Trần Quang Cảnh;
  • Thư ký phiên tòa: bà Võ Thị Bích Đào là Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh;
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Hoàng là Kiểm sát viên;

Hôm nay, ngày 07 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 220/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 266/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024 đối với:

1/ Họ và tên: THÀM MINH Đ; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1982 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 122/19 T, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 1 T, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Thàm A N, sinh năm 1955 và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1954; Vợ: Nguyễn Huỳnh Anh N1, sinh năm 1990 (đã ly hôn); Con: 02 người, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2015; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 17/10/2018, Ủy ban nhân dân Thành phố H ra Quyết định số 4568/QĐ-XPVPHC ngày 17/10/2018 xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vận chuyển hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu với số tiền 60.000.000 đồng, bị cáo chưa đóng phạt; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 03/7/2024;

2/ Họ và tên: NGUYỄN CHÍ T; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1997 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 108/89/12 T, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 1 T, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Tài xế giao hàng công nghệ; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Lê Văn T1, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1968; Vợ: Nguyễn Phương A, sinh năm 1998; Con: 01 người sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú;

(các bị cáo có mặt tại phiên toà)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1990, địa chỉ: 1 Đ, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh;

(vắng mặt tại phiên toà)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 01/2024, thông qua mạng xã hội, Thàm Minh Đ biết đối tượng tên T3 (chưa rõ lai lịch, sử dụng số điện thoại 0339.524.xxx) có bán thuốc lá điếu nhập lậu nên Đ liên hệ đặt mua thuốc lá điếu nhập lậu. Sau đó, T3 cử người (chưa rõ lai lịch) điều khiển xe máy (chưa rõ biển số) giao thuốc lá điếu nhập lậu chứa trong các bịch nylon đen đến nhà của Đ, địa chỉ 1 T, phường P, quận T. Đ mua thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Jet với giá 19.500 đồng/bao và hiệu Hero với giá 16.500 đồng/bao, Đ thanh toán tiền mặt cho người giao hàng hoặc khi nào Đ bán được hàng thì sẽ thanh toán tiền mặt cho T3 và T3 cử người đến lấy tiền. Đ bán thuốc lá điếu nhập lậu cho khách hàng với giá 19.800 đồng/bao hiệu Jet và giá 16.800 đồng/bao hiệu Hero, Đ không lưu lại số điện thoại của khách hàng. Sau đó, khách hàng đến nhà của Đ nhận hàng rồi thanh toán tiền mặt cho Đ hoặc Đ thuê xe ôm công nghệ đi giao cho khách hàng.

Cuối tháng 4/2024, Đ thuê Nguyễn Chí T vận chuyển, chở thuốc lá điếu nhập lậu giao cho khách và Đ trả tiền công cho T là 200.000 đồng/chuyến. Trước khi đi giao, Đ sẽ cung cấp cho T số điện thoại, địa điểm của người nhận để đi giao và Đ sẽ liên hệ, nhận tiền thanh toán - tiền mặt từ khách hàng sau.

Vào tối ngày 10/5/2024, Nguyễn Thị Thu H gọi điện qua Zalo cho Đ đặt mua 1.290 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Jet và 200 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Hero. Đến khoảng 07 giờ ngày 11/5/2024, T điều khiển xe máy hiệu Honda Future, biển số 59D3-261.45 đến nhà của Đ lấy 1.290 bao thuốc lá nhập lậu hiệu Jet và 200 bao thuốc lá nhập lậu hiệu Hero bỏ vào bao tải ghi “giao hàng tiết kiệm”. Sau đó, Đ đọc số điện thoại 0903.669.xxx của H để T liên hệ rồi T điều khiển xe máy trên chở 1.490 bao thuốc lá điếu nhập lậu trên giao cho H tại địa chỉ 1 Đ, Phường A, Quận D rồi T về lại nhà của Đ. Đ chưa liên hệ lại H để lấy tiền thanh toán. Đến khoảng 09 giờ 10 phút cùng ngày, T quay lại nhà Đ rồi cùng Đức chất 1.490 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Jet lên xe máy biển số 59D3-261.45 tại trước số A T, phường P, quận T để chuẩn bị mang đi giao cho khách thì bị Công an quận T phối hợp Công an phường P, quận T đến kiểm tra, phát hiện.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T tiến hành khám xét tại nhà số A T, phường P, quận T là nơi cư trú của Thàm Minh Đ, thu giữ: 10 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Hero (được đóng thành 01 cây), mục đích để mua bán.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T tiến hành khám xét tại nhà số A Đ, Phường A, Quận D là nơi cư trú của Nguyễn Thị Thu H, thu giữ: 1.290 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Jet và 200 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Hero, đây là thuốc lá điếu nhập lậu do H mua của Đ và được Tâm giao đến vào ngày 11/5/2024.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Thàm Minh Đ và Nguyễn Chí T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Đồng thời, Nguyễn Thị Thu H khai nhận đây là lần đầu mua thuốc lá điếu nhập lậu và chỉ mua của Đ, Thàm Minh Đ khai đã thu lợi 35.000.000 đồng từ việc buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu và đã tiêu xài hết, Nguyễn Chí T khai đã được Đ trả tiền công 3.000.000 đồng do giúp Đ giao thuốc lá điếu nhập lậu cho khách mua và đã tiêu xài hết.

Công văn số 92/CV-2024 HHTLVN ngày 16/5/2024 của H1 về việc thẩm định thuốc lá điếu nhập lậu, xác định số lượng thu giữ của Thàm Minh Đ, Nguyễn Thị Thu H là thuốc điếu nhập lậu (bút lục số 195)

Qua tra cứu, thông tin chủ thuê bao 0339524159 là Nguyễn Trọng P (sinh năm 2000, Căn cước công dân số [...], địa chỉ: Thôn H, xã Â, huyện H, Bình Định) (bút lục số 206). Qua xác minh, Nguyễn Trọng P không có mặt tại địa phương, không rõ đang ở đâu (bút lục số 211), Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy tìm Nguyễn Trọng P (bút lục số 217).

* Vật chứng thu giữ:

  • + 1.490 (một ngàn bốn trăm chín mươi) bao thuốc lá điếu hiệu Jet, loại 20 điếu/bao, không dán tem nhập khẩu, do nước ngoài sản xuất, chưa qua sử dụng.
  • + 10 (mười) bao thuốc lá điếu hiệu Hero, loại 20 điếu/bao, không dán tem nhập khẩu, do nước ngoài sản xuất, chưa qua sử dụng.
  • + 1.290 (một ngàn hai trăm chín mươi) bao thuốc lá điếu hiệu Jet, loại 20 điếu/bao, không dán tem nhập khẩu, do nước ngoài sản xuất, chưa qua sử dụng.
  • + 200 (hai trăm) bao thuốc lá điếu hiệu Hero, loại 20 điếu/bao, không dán tem nhập khẩu, do nước ngoài sản xuất, chưa qua sử dụng.
  • + 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7, số Imei: 353805081581295, đã qua sử dụng. Đây là điện thoại di động của Thàm Minh Đ sử dụng liên lạc mua bán thuốc lá điếu nhập lậu.
  • + 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 13 Pro, số Imei 355656509825790, đã qua sử dụng. Đây là điện thoại di động của Nguyễn Thị Thu H sử dụng liên lạc mua và nhận thuốc lá điếu nhập lậu.
  • + 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro, số Imei 358522142751396, đã qua sử dụng. Đây là điện thoại di động của Nguyễn Chí T sử dụng liên lạc với khách hàng để giao thuốc lá điếu nhập lậu cho Thàm Minh Đ.
  • + 01 (một) cái túi xách màu xanh có in chữ “giao hàng tiết kiệm”, 02 (hai) cái bao nylong màu đen, đã qua sử dụng. Đây là dụng cụ để Đ và T ngụy trang khi chở thuốc lá điếu nhập lậu.
  • + 01 (một) xe máy hiệu Honda Future, biển số 59D3-261.45, số khung: RLHJC7657NY161994, số máy: JC90E0348377, đã qua sử dụng, không bị đục lại số khung, số máy (bút lục số 197). Đây là xe máy được Nguyễn Chí T sử dụng vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu. Qua xác minh, xe máy trên do chị Nguyễn Phương A (Sinh năm 1998, địa chỉ 8 T, phường P, quận T, vợ của Nguyễn Chí T) đứng tên chủ sở hữu (bút lục số 198). Qua làm việc, chị Phương A trình bày xe máy biển số 59D3-261.45 là tài sản riêng của chị A và từ tháng 01/2024, cho T mượn xe máy trên để chạy xe ôm công nghệ, không biết T sử dụng xe máy trên để vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu dùm cho Đ (bút lục số 201). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã trao trả xe máy trên cho chị Phương A (bút lục số 204).

Các vật chứng còn lại đang nhập kho vật chứng theo Lệnh nhập kho vật chứng số 203/LNK-ĐCSKT ngày 04/9/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T (bút lục số 215).

Tại bản cáo trạng số 242/CT-VKSQ.TP ngày 10 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Thàm Minh Đ, Nguyễn Chí T về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm b Khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, sau khi kết thúc phần thủ tục xét hỏi, Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa, phát biểu ý kiến giữ nguyên quan điểm như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng điểm b Khoản 1 Điều 190; Điều 17; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Thàm Minh Đ mức án từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
  • - Áp dụng điểm b Khoản 1 Điều 190; Điều 17; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 35; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Nguyễn Chí T số tiền từ 100.000.000 (một trăm triệu) đồng đến 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố, không có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội sửa sai, làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án. Điều tra viên, Kiểm sát viên, khi thực hiện hành vi cũng như ban hành các Quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án nên đã có đủ cơ sở để xác định: Ngày 11/5/2024, Thàm Minh Đ đã có hành vi mua bán 1.490 bao thuốc lá điếu nhập lậu cho Nguyễn Thị Thu H và cất giấu 1.500 bao thuốc lá điếu nhập lậu tại số A T, phường P, quận T, mục đích để mua bán, với tổng số thuốc lá nhập lậu dùng để buôn bán là 2.990 bao. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: “Buôn bán hàng cấm” theo điểm b Khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Đối với Nguyễn Chí T có hành vi vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu giao cho khách hàng giúp cho Đ để được hưởng tiền công, đã phạm vào tội: “Buôn bán hàng cấm” với vai trò đồng phạm, tội danh và hình phạt dược quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước đối với các loại hàng cấm, đối tượng tác động là các loại hàng hóa mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng, chưa được phép lưu hành và sử dụng tại Việt NamDo đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo là có cơ sở, đúng pháp luật.

Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Các bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ khả năng nhận thức pháp luật, biết rõ việc mua, bán, kinh doanh, sản xuất thuốc lá điếu nhập lậu bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng xuất phát từ động cơ vụ lợi, các bị cáo đã bất chấp pháp luật, mua thuốc lá điếu nhập lậu của một số đối tượng để về bán lại cho người khác. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu, sản xuất các mặt hàng được Nhà nước và pháp luật bảo hộ, đồng thời gây nguy hại đến sức khỏe người tiêu dùng tại địa phương, xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý kinh tế, đi ngược lại với việc đấu tranh phòng chống tội phạm trong lĩnh vực kinh tế trên địa bàn quận T nói riêng và trong toàn xã hội nói chung. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết có một hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ và hành vi của các bị cáo nhằm mục đích giáo dục, cải tạo các bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.

Đối với Nguyễn Thị Thu H buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu với số lượng 1.490 bao (dưới 1.500 bao), chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T chuyển xử lý hành chính là có cơ sở.

[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Tình tiết tăng nặng: Không có;
  • - Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Hội đồng xét xử xét thấy đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo. Ngoài ra, quá trình chuẩn bị xét xử bị cáo T đã chủ động nộp lại số tiền 3.000.000 (ba triệu) đồng là tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội nên đây cũng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) càn áp dụng đối với bị cáo T.

Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo T có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội và có vai trò hạn chế trong vụ án, hiện bị cáo đang là lao động chính trong gia đình có vợ và con nhỏ (dưới 36 tháng tuổi), quá trình dược tại ngoại chấp hành tốt chính sách, pháp luật của địa phương, luôn có mặt khi các Cơ quan tiến hành tố tụng triệu tập, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) do đó nghĩ không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần áp dụng Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo đồng thời thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước đối với người phạm tội.

[4] Về xử lý vật chứng:

Đối với 2780 (hai ngàn bảy trăm tám mươi) bao thuốc lá điếu hiệu Jet, loại 20 điếu/bao, không dán tem nhập khẩu, do nước ngoài sản xuất, chưa qua sử dụng; 210 (mười) bao thuốc lá điếu hiệu Hero, loại 20 điếu/bao, không dán tem nhập khẩu, do nước ngoài sản xuất, chưa qua sử dụng, Hội đồng xét xử xét thấy đây là số vật chứng của vụ án, là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu huỷ;

Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7, số Imei: 353805081581295, đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Thàm Minh Đ; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 13 Pro, số Imei 355656509825790, đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Thị Thu H; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro, số Imei 358522142751396, đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Chí T, Hội đồng xét xử xét thấy đây là số điện thoại sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung quỹ Nhà nước;

Đối với 01 (một) cái túi xách màu xanh có in chữ “giao hàng tiết kiệm”, 02 (hai) cái bao nylong màu đen, đã qua sử dụng, Hội đồng xét xử xét thấy đây là dụng cụ để Đ và T ngụy trang khi chở thuốc lá điếu nhập lậu, hiện không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ;

(Tình trạng vật chứng theo Lệnh nhập kho vật chứng số 203/LNK-ĐCSKT ngày 04/9/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T)

[5] Về số tiền thu lợi bất chính: Quá trình điều tra xác định bị cáo Đ thu lợi bất chính từ việc bán thuốc lá điếu nhập lậu số tiền 35.000.000 (ba mươi lăm triệu) đồng, bị cáo T thu lợi bất chính từ việc nhận chở thuốc lá thuê là 3.000.000 (ba triệu) đồng do đó cần buộc các bị cáo nộp lại số tiền trên để sung quỹ Nhà nước. Tuy nhiên, giai đoạn chuẩn bị xét xử bị cáo T đã chủ động nộp lại số tiền 3.000.000 (ba triệu) đồng theo Biên lai thu tiền số 0045239 ngày 07/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh do đó bị cáo đã nộp đủ;

[6] Về án phí: các bị cáo phải chịu Án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố các bị cáo Thàm Minh Đ, Nguyễn Chí T phạm tội “Buôn bán hàng cấm"

  • * Căn cứ điểm b Khoản 1 Điều 190; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
  • Xử phạt bị cáo:
  • Thàm Minh Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
  • Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 03/7/2024.
  • * Căn cứ điểm b Khoản 1 Điều 190; Điều 17; Điều 35; Điều 50; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
  • Xử phạt bị cáo:
  • Nguyễn Chí T số tiền 100.000.000 (một trăm triệu) đồng
  • * Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106; Khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tịch thu tiêu huỷ: 2780 (hai ngàn bảy trăm tám mươi) bao thuốc lá điếu hiệu Jet, loại 20 điếu/bao, không dán tem nhập khẩu, do nước ngoài sản xuất, chưa qua sử dụng; 210 (mười) bao thuốc lá điếu hiệu Hero, loại 20 điếu/bao, không dán tem nhập khẩu, do nước ngoài sản xuất, chưa qua sử dụng; 01 (một) cái túi xách màu xanh có in chữ “giao hàng tiết kiệm”, 02 (hai) cái bao nylong màu đen, đã qua sử dụng

(Tình trạng vật chứng theo Lệnh nhập kho vật chứng số 203/LNK-ĐCSKT ngày 04/9/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T)

Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7, số Imei: 353805081581295, đã qua sử dụng thu giữ; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 13 Pro, số Imei 355656509825790, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro, số Imei 358522142751396, đã qua sử dụng;

(Tình trạng vật chứng theo Lệnh nhập kho vật chứng số 203/LNK-ĐCSKT ngày 04/9/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T)

Buộc bị cáo Thàm Minh Đ nộp lại số tiền 35.000.000 (ba mươi lăm triệu) đồng để sung quỹ Nhà nước;

Buộc bị cáo Nguyễn Chí T nộp lại số tiền 3.000.000 (ba triệu) đồng cấn trừ vào số tiền đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0045239 ngày 07/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh do đó bị cáo đã nộp đủ;

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Bản án được tống đạt/niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật.

* Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - Công an quận Tân Phú;
  • - VKSND quận Tân Phú;
  • - Chi cục THADS quận Tân Phú;
  • - TAND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND TP. Hồ Chí Minh;
  • - Phòng PC27 CATP.HCM;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Huỳnh Hoàng Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 216/2024/HSST ngày 07/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự - buôn bán hàng cấm

  • Số bản án: 216/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Buôn bán hàng cấm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo Thàm Minh Đ, Nguyễn Chí T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger