Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

 

Bản án số: 2158/2024/HNGĐ-ST.

Ngày: 29 - 5 - 2024.

V/v Tranh chấp ly hôn.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Anh Ngọc.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Võ Thị Gái.
  2. Bà Nguyễn Hương Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Lam – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 2581/2023/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 10 năm 2023 về việc: “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1782/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 2711/2024/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Đào Thị Thanh T, sinh năm: 1986.

    Địa chỉ: Thôn N, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình, xin vắng mặt.

  2. Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh S, sinh năm: 1987.

    Địa chỉ: F Đường số D, Khu phố F, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn xin ly hôn ngày 09/3/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Đào Thị Thanh T trình bày:

Bà T và ông S chung sống từ năm 2012 và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 30/2013, Quyển số 01/2013 do Ủy ban nhân dân Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 13/3/2013. Việc chung sống với nhau là hoàn toàn tự nguyện.

Năm 2016, vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, cải vã, nguyên nhân là do không có tiếng chung, bất đồng về quan điểm sống. Từ năm 2020, vợ chồng đã sống ly thân nên bà T và con đã về quê sinh sống. Nhận thấy cuộc sống vợ chồng không thể kéo dài hơn nữa, hạnh phúc không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể tiếp tục duy trì cuộc sống vợ chồng nên bà T yêu cầu được ly hôn với ông S.

Về con chung: Bà T và ông S có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Thiên K, sinh ngày 12/6/2014. Hiện nay con chung đang sống chung với bà T nên bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu ông S cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn Thanh S vắng mặt trong quá trình tố tụng nên Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức không thu thập được ý kiến trình bày của ông S.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

  • Về tố tụng: Hội đồng xét xử, Thẩm phán, Thư ký thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng. Các đương sự thực hiện quyền, nghĩa vụ theo đúng quy định của pháp luật.
  • Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Đào Thị Thanh T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:

Bà Đào Thị Thanh T yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Thanh S nên căn cứ quy định tại Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì quan hệ tranh chấp trong vụ án được xác định là “Tranh chấp ly hôn”. Ông S cư trú tại thành phố T nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Đào Thị Thanh T vắng mặt nhưng có nộp đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn ông Nguyễn Thanh S vắng mặt không có lý do mặc dù Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

[3] Về yêu cầu của đương sự:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời trình bày của nguyên đơn, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định bà T và ông S tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 30/2013, Quyển số 01/2013 do Ủy ban nhân dân Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 13/3/2013. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông S là hợp pháp.

[3.2] Căn cứ lời trình bày của bà T trong quá trình giải quyết vụ án thì giữa bà và ông S bắt đầu phát sinh mâu thuẫn từ năm 2016 do không có tiếng chung, bất đồng về quan điểm sống. Từ năm 2020, vợ chồng đã sống ly thân nên bà T và con đã về quê sinh sống. Về phía ông S trong suốt quá trình tiến hành tố tụng cũng như tại phiên tòa vắng mặt không có lý do, không gửi văn bản trình bày ý kiến và hoàn toàn không có yêu cầu được đoàn tụ gia đình với bà T. Điều này cho thấy ông S đã không còn thực sự quan tâm đến quan hệ hôn nhân giữa ông và bà T. Do đó, có căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa bà T và ông S là trầm trọng, tình cảm yêu thương vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài. Vì vậy, yêu cầu của bà T xin ly hôn với ông S là có cơ sở, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[3.4] Về con chung: Bà T và ông S có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Thiên K, sinh ngày 12/6/2014. Bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu cấp dưỡng cho con, Hội đồng xét xử nhận định: Bà T trình bày hiện nay con chung đang ở với bà T nên bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung là phù hợp, đảm bảo cuộc sống ổn định của con chung nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Bà T không yêu cầu ông S cấp dưỡng cho con là hoàn toàn tự nguyện nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[3.5] Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

[4] Về án phí: Bà T là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Ông S không phải chịu tiền án phí.

[5] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp với quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • - Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • - Luật Thi hành án dân sự;

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Đào Thị Thanh T:
    1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Đào Thị Thanh T được ly hôn với ông Nguyễn Thanh S.
    2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Ngọc Thiên K, sinh ngày 12/6/2014 cho bà T trực tiếp nuôi. Ghi nhận sự tự nguyện của bà T không yêu cầu ông S cấp dưỡng cho con.

      Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi và giáo dục con chưa thành niên.

      Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi; có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

      Nếu người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

      Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.

      Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.

    3. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết.
  2. Về án phí:

    Án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng bà Đào Thị Thanh T phải chịu, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu số AA/2023/0027593 ngày 07/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức;
  • - Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức;
  • - UBND Phường 22, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Lưu VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Phạm Anh Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 2158/2024/HNGĐ-ST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 2158/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Đào Thị Thanh T yêu cầu ly hôn đối với ông Nguyễn Thanh S
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger