Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 215/2023/DS-ST

Ngày: 30 - 10 - 2023

V/v: tranh chấp hợp đồng tư

vấn dịch vụ

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Bảo

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Chính;
  2. Ông Huỳnh Phi Hổ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên toà: Ông Mai Văn Thông – Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 10 năm 2023 tại Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 716/2023/TLST-DS ngày 12 tháng 6 năm 2023 về việc: “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 249/2023/QĐXX-ST ngày 20 tháng 9 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 1427/2023/QĐXX-ST ngày 13 tháng 10 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Trần Thị Xuân V; sinh năm 1984; (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Số A T, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Công ty Cổ phần D; (vắng mặt)

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Văn V1 – Chức danh: Tổng giám đốc

Địa chỉ trụ sở: Lô CN1 – LK2, đường N, khu phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn bà Nguyễn Trần Thị Xuân V trình bày:

Vào ngày 02/04/2019, bà có ký với Công ty Cổ phần D có trụ sở chính tại C1/17+18 khu quy hoạch nhà ở, khu phố A, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay tên công ty và trụ sở được thay đổi là: Công ty Cổ phần D và có địa trụ sở tại CN1-LK2, đường N, khu phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) Thỏa Thuận Tư Vấn Bất Động Sản số 06/TTTV-ĐXĐNB để tư vấn bất động sản của mã sản phẩm số A-16-07, tên dự án Chung cư C (S) địa chỉ dự án đường D, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh do chủ đầu tư là Công ty trách nhiệm hữu hạn D1. Thỏa thuận giá dịch vụ tư vấn là 180.000.000 đồng và thời gian thực hiện dịch vụ trong vòng 08 (tám) tháng kể từ ngày ký thỏa thuận. Bà đã nộp đủ số tiền 180.000.000 đồng cho Công ty Cổ phần D ngay sau khi ký thỏa thuận và có phiếu thu.

Nhưng hết thời hạn theo thỏa thuận nhưng dự án vẫn chưa được thực hiện nên bà đã nhiều lần đến gặp trực tiếp lãnh đạo Công ty Cổ phần D yêu cầu thực hiện theo thỏa thuận tư vấn bất động sản thì phía Công ty Cổ phần D không thực hiện được nên đến ngày 23/5/2022 bà làm đơn đề nghị rút số tiền đã đóng là 180.000.000 đồng trên. Đến ngày 28/6/2022 bà nhận được Thông báo đề ngày 28/6/2022 của Công ty Cổ phần D thông báo lịch thanh toán tiền cho bà với số tiền 180.000.000 đồng và thời gian nhận tiền là ngày 31/10/2022. Nhưng đến ngày 31/10/2022 bà đến Công ty Cổ phần D để nhận tiền theo thông báo nhưng phía Công ty vẫn không trả tiền cho bà. Sau đó bà có đến Công ty yêu cầu trả số tiền nhiều lần nhưng phía Công ty vẫn không chịu trả tiền cho bà với lý do không có khả năng thanh toán hoàn trả khoản phí dịch vụ đã nêu trên.

Do vậy, bà khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết buộc Công ty Cổ phần D hoàn trả số tiền dịch vụ 180.000.000 đồng (Một trăm tám mươi triệu đồng) trên cho bà. Ngoài ra bà không yêu cầu gì thêm.

* Đối với bị đơn Công ty Cổ phần D: Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Công ty Cổ phần D không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án và cũng không nộp bất cứ tài liệu chứng cứ nào liên quan đến vụ án mặc dù Tòa án đã thực hiện việc tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai phát biểu ý kiến:

  • - Về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: đã thực hiện đúng theo quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai thụ lý vụ án đúng thẩm quyền; xác định quan hệ pháp luật, tư cách của đương sự và thu thập chứng cứ đúng quy định của pháp luật.
  • - Về việc giải quyết vụ án: Việc bà Nguyễn Trần Thị Xuân V yêu cầu Công ty Cổ phần D hoàn trả số tiền dịch vụ là 180.000.000 đồng theo thỏa thuận tư vấn hợp đồng dịch vụ là có căn cứ pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Trần Thị Xuân V, buộc Công ty Cổ phần D thanh toán số tiền 180.000.000 đồng cho bà Nguyễn Trần Thị Xuân V.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

  • - Về tư cách tố tụng và quan hệ tranh chấp:
  • Xét bà Nguyễn Trần Thị Xuân V khởi kiện Công ty Cổ phần D yêu cầu Công ty Cổ phần D thanh toán số tiền 180.000.000 đồng cho bà Nguyễn Trần Thị Xuân V theo Thỏa thuận tư vấn bất động sản số 06/TTTV-ĐXĐNB ngày 02/4/2019. Căn cứ vào Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định bà Nguyễn Trần Thị Xuân V là nguyên đơn, Công ty Cổ phần D là bị đơn. Căn cứ Khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng tư vấn dịch vụ”.
  • - Về thẩm quyền giải quyết:
  • Căn cứ Công văn số 405/ĐKKD ngày 13/7/2023 của Phòng Đăng ký kinh doanh của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Đ thì “Công ty cổ phần D được phòng Đăng ký kinh doanh - Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số 3602248878 ngày 18/03/2010; đăng ký thay đổi lần thứ 16, ngày 10/05/2023, địa chỉ trụ sở chính tại: Lô C, Đường N, Khu phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; người đại diện theo pháp luật: ông Lê Văn V1, chức danh: Tổng giám đốc (gửi kèm Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đăng ký thay đổi lần thứ 16, ngày 10/05/2023 bản in trên Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia có đóng dấu treo của Phòng Đăng ký kinh doanh). Tình trạng pháp lý: Theo thông tin đăng ký doanh nghiệp trên Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, Công ty cổ phần D ở tình trạng đang hoạt động, chưa thực hiện đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp hoặc tạm ngừng kinh doanh hoặc giải thể tại phòng Đăng ký kinh doanh kể từ lần đăng ký thay đổi lần thứ 16 ngày 10/05/2023 đến nay.” Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Trần Thị Xuân V thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai nên được xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
  • - Về quá trình tố tụng trong việc giải quyết vụ án:
  • Quá trình giải quyết vụ án, Công ty Cổ phần D không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án và cũng không nộp bất cứ tài liệu chứng cứ nào liên quan đến vụ án mặc dù Tòa án đã thực hiện việc tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho Công ty Cổ phần D tại trụ sở chính. Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn Công ty Cổ phần D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan; Nguyên đơn bà Nguyễn Trần Thị Xuân V có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a Khoản 2 Điều 227 và điểm b Khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn bà Nguyễn Trần Thị Xuân V và bị đơn Công ty Cổ phần D.

[2] Về nội dung tranh chấp:

2.1. Xét tính hợp pháp của giao dịch dân sự được xác lập giữa bà Nguyễn Trần Thị Xuân V và Công ty Cổ phần D:

Căn cứ vào Thỏa Thuận Tư Vấn Bất Động Sản số 06/TTTV-ĐXĐNB ngày 02/4/2019 giữa Bên A là bà Nguyễn Trần Thị Xuân V và Bên B là Công ty Cổ phần D (nay là Công ty Cổ phần D) thỏa thuận tư vấn bất động sản của mã sản phẩm số A-16-07, tên dự án Chung cư C (S) địa chỉ dự án đường D, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh do chủ đầu tư là Công ty trách nhiệm hữu hạn D1. Theo đó Bên A là bà Nguyễn Trần Thị Xuân V đã thanh toán cho Bên B là Công ty Cổ phần D số tiền là 180.000.000 đồng theo Phiếu thu số PTSG1904002 ngày 02/4/2019.

Như vậy, tại thời điểm xác lập giao dịch dân sự, bà Nguyễn Trần Thị Xuân V và Công ty Cổ phần D đều là những chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, tham gia giao dịch một cách hoàn toàn tự nguyện, mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Vì vậy, có cơ sở xác định đây là giao dịch dân sự hợp pháp nên đã làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự của cả hai bên đương sự là bà Nguyễn Trần Thị Xuân V và Công ty Cổ phần D.

2.2. Xét yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Trần Thị Xuân V về việc buộc Công ty Cổ phần D có trách nhiệm trả lại số tiền đã nộp để đặt tư vấn mua căn hộ số A, tên dự án Chung cư C (S) địa chỉ dự án đường D, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh với số tiền là 180.000.000 đồng.

Căn cứ Thỏa Thuận Tư Vấn Bất Động Sản số 06/TTTV-ĐXĐNB ngày 02/4/2019 giữa Bên A là bà Nguyễn Trần Thị Xuân V và Bên B là Công ty Cổ phần D (nay là Công ty Cổ phần D), Phiếu thu số PTSG1904002 ngày 02/4/2019 của Công ty Cổ phần D có thu của bà Nguyễn Trần Thị Xuân V số tiền là 180.000.000 đồng, Thông báo đề ngày 28/6/2022 của Công ty Cổ phần D thông báo lịch thanh toán tiền cho bà Nguyễn Trần Thị Xuân V với số tiền phải thanh toán là 180.000.000 đồng và thời gian nhận tiền là ngày 31/10/2022.

Như vậy, có cơ sở khẳng định ngày 02/4/2019, bà Nguyễn Trần Thị Xuân V có ký thỏa thuận bất động sản, có chuyển số tiền 180.000.000 đồng cho Công ty Cổ phần D để thỏa thuận tư vấn bất động sản của mã sản phẩm số A-16-07, tên dự án Chung cư C (S) địa chỉ dự án đường D, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Trần Thị Xuân V là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị đơn Công ty Cổ phần D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch, nguyên đơn bà Nguyễn Trần Thị Xuân V không phải chịu án phí dân sự.

[4] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa về hướng giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 117, 513, 514 và 519 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Trần Thị Xuân V đối với bị đơn Công ty Cổ phần D về việc “Tranh chấp hợp đồng tư vấn dịch vụ”.
  2. Buộc Công ty Cổ phần D trả lại cho bà Nguyễn Trần Thị Xuân V số tiền 180.000.000 đồng (Một trăm tám mươi triệu đồng).

    Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thanh toán số tiền trên, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải thanh toán cho người được thi hành án số tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    • - Bị đơn Công ty Cổ phần D phải chịu 9.000.000 đồng (chín triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
    • - Nguyên đơn bà Nguyễn Trần Thị Xuân V không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho bà Nguyễn Trần Thị Xuân V số tiền tạm ứng án phí đã nộp 4.500.000 đồng (bốn triệu năm trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0008033 ngày 08/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
  4. Về quyền kháng cáo:
  5. Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

    Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, văn thư.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Quốc Bảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 215/2023/DS-ST ngày 30/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp hợp đồng tư vấn dịch vụ

  • Số bản án: 215/2023/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tư vấn dịch vụ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/10/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tư vấn dịch vụ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger