|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 215/2023/HS-ST Ngày: 30-10 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Thuỳ Trang
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lâm Thị Nga, ông Nguyễn Văn Quản
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thống – Thư ký Toà án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Đoàn Thị Châu – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai trực tiếp vụ án hình sự thụ lý số 280/2023/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1103/2023/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:
- Nguyễn Hồng Phúc Đ – sinh năm: 2002 tại Bình Thuận; nơi ĐKHKTT: tổ H, khu phố A, phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; chỗ ở hiện nay: Số G đường Q, khu phố E, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị Q; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ ngày 15/6/2023, chuyển tạm giam ngày 21/6/2023 đến nay, bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Bị hại: Công ty cổ phần T3 dộng
Địa chỉ: A T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo uỷ quyền của công ty cổ phần T3 dộng: Ông Nguyễn Thanh S, sinh năm: 1994 (giấy uỷ quyền ngày 27/10/2023); có mặt.
- Người làm chứng: Anh Vũ Ngọc T1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Hồng Phúc Đ là nhân viên tại Cửa hàng địa chỉ: A - 104 - A đường T, khu phố F, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc Công ty cổ phần T4 từ tháng 01/2022 đến tháng 9/2022 chuyển sang Cửa hàng Điện Máy X khác và đến tháng 11/2022 thì nghỉ việc. Do không có tiền tiêu xài nên Đ đã nảy sinh ý định đến Cửa hàng Đ1, địa chỉ: A – 104 – 106 nói trên để trộm cắp tài sản. Khoảng 05 giờ 30 phút ngày 12/6/2023, Đ đặt ứng dụng xe ôm công nghệ G đi từ nơi ở trọ tại địa chỉ: Số G đường Q, khu phố E, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh đến Cửa hàng Điện Máy X nói trên để trộm cắp tài sản. Khi đến nơi cửa hàng chưa mở cửa nên Đ gọi cửa và nói với anh Vũ Ngọc T1 (bảo vệ trực đêm tại cửa hàng), Đ là nhân viên mới đến làm nhưng do chưa đến giờ mở cửa nên anh T1 không mở cửa cho Đ vào cửa hàng.
Đến khoảng 07 giờ 15 phút cùng ngày, anh T1 mở cửa hàng cho nhân viên vào thì Đ lợi dụng sơ hở lẻn vào bên trong cửa hàng, đi đến các tủ trưng bày điện thoại di động để tìm và lấy trộm chìa khoá mở tủ điện thoại. Đ dùng chìa khoá mở tủ điện thoại trộm cắp 03 chiếc điện thoại di động hiệu S1 A54, màu đen là hàng mới đã bị gỡ seal và 02 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, 64GB, màu đen. Sau đó, Đ cho tất cả điện thoại trộm cắp vào túi chéo đeo trước ngực mang theo trước đó. Sau khi trộm cắp Đ khoá tủ và để lại chìa khoá tại bàn làm việc của nhân viên rồi về phòng nơi ở trọ cất giấu điện thoại di động.
Khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày, Đ lên ứng dụng Facebook tìm người để bán điện thoại di động mà Đ đã trộm cắp được tại cửa hàng Điện Máy X và Đ đã bán 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11, 64GB màu đen cho người đàn ông (không rõ lai lịch) với giá 9.000.000đồng. Số tiền bán điện thoại, Đ đã tiêu xài 1.400.000đồng, số tiền còn lại 7.600.000đồng Đăng cất giấu tại phòng nơi ở trọ thì bị thu giữ.
Sau khi sự việc xảy ra, anh Nguyễn Thanh S là người quản lý cửa hàng Điện Máy X đến Công an phường T, Quận A trình báo sự việc.
* Vật chứng thu giữ của vụ án:
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A54, màu đen, số Imel 350320366116935.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A54, màu đen, số Imel 354106243575880.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A54, màu đen, số Imel 350320365412079.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu đen, số Imel 359707312622944.
- - 01 áo thun ngắn tay màu xanh dương có dòng chữ Điện Máy X; 01 đôi giầy tây màu đen; 01 quần dài màu đen và 01 túi đeo vải màu đen.
- - 01 USB màu trắng.
- - Tiền Ngân hàng N1 7.600.000đồng (số tiền Đ bán tiền thoại do trộm cắp mà có).
* Tại bản kết luận định giá tài sản số 201/KL-HĐĐGTS ngày 29/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận A (BL 32, 33, 34) đã kết luận:
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu đen, số Imel 352737595181208 (không thu hồi được), trị giá là 10.250.000đồng.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu đen, số Imel 359707312622944 (thu hồi được), trị giá là 10.250.000đồng.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A54, màu đen, số I 350320365412079 (thu hồi được), trị giá là 7.950.000đồng.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A54, màu đen, số I 350320366116935 (thu hồi được), trị giá là 7.950.000đồng.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A54, màu đen, số I 354106243575880 (thu hồi được), trị giá là 7.950.000đồng.
Tổng tài sản bị cáo trộm cắp trị giá 44.350.000đồng.
Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo Nguyễn Hồng Phúc Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
* Tại Cáo trạng số 212/CT-VKS-Q12 ngày 26/9/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân Quận 12 đã truy tố bị cáo Nguyễn Hồng Phúc Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
* Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 giữ nguyên quan điểm như cáo trạng truy tố đối với bị cáo Nguyễn Hồng Phúc Đ và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng Phúc Đ từ 09 đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- - Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo về việc bồi thường cho bị hại số tiền 11.990.000đồng.
- - Về xử lý vật chứng:
- + Đối với 03 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A54 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 trả lại cho Công ty cổ phần T4.
- + Tịch thu tiêu huỷ: 01 áo thun ngắn tay màu xanh dương có dòng chữ Điện Máy X; 01 đôi giầy tây màu đen; 01 quần dài màu đen và 01 túi đeo vải màu đen.
Khi nói lời nói sau cùng, bị cáo đã ăn năn, hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được giảm nhẹ một phần hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về chứng cứ xác định có tội: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; tang vật thu giữ; lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng; kết luận định giá tài sản ngày 29/6/2023 và các tài liệu, chứng cứ mà cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ kết luận:
Khoảng 07 giờ 15 phút ngày 12/6/2023, Nguyễn Hồng Phúc Đ đã có hành vi trộm cắp 05 chiếc điện thoại di động có tổng trị giá là 44.350.000đồng tại Cửa hàng Đ1 có địa chỉ: A - 104 - A đường T, khu phố F, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh của Công ty cổ phần T4.
Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp nên hành vi của bị cáo Nguyễn Hồng Phúc Đ đã phạm vào tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 đã truy tố là đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của bị cáo tuy ít nghiêm trọng nhưng gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an tại địa phương và gây tâm lý lo ngại trong nhân dân. Vì vậy, cần thiết phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và đấu tranh phòng chống tội phạm nói riêng.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, tại phiên toà đại diện của bị hại xin giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[5] Về vật chứng, xử lý vật chứng:
Đối với 03 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A54, màu đen có số Imel 350320366116935, số Imel 354106243575880, số I 350320365412079 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu đen, số Imel 359707312622944 thuộc sở hữu của Công ty cổ phần T4 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 đã có quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu là có căn cứ.
Đối với 01 USB chứa hình ảnh bị cáo vào Cửa hàng Điện Máy X lấy trộm tài sản đã được lưu kèm trong hồ sơ vụ án.
Đối với 01 áo thun ngắn tay màu xanh dương có dòng chữ Điện Máy X; 01 đôi giầy tây màu đen; 01 quần dài màu đen và 01 túi đeo vải màu đen có liên quan đến tội phạm và không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.
Đối với số tiền Ngân hàng N1 7.600.000đồng là tiền bị cáo bán điện thoại do trộm cắp mà có nên chi trả số tiền này cho Công ty cổ phần T4.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Hồng Phúc Đ đồng ý bồi thường cho bị hại Công ty cổ phần T4 11.990.000đồng là trị giá chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu đen, số Imel 352737595181208 theo như yêu cầu của bị hại. Xét thấy việc bị cáo nhất trí bồi thường cho bị hại số tiền trên là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận. Như đã phân tích ở mục [5], số tiền 7.600.000đồng là tiền bị cáo có được do bán tài sản trộm cắp mà có nên chi trả cho bị hại số tiền này. Vì vậy, buộc bị cáo còn phải bồi thường cho bị hại số tiền còn lại là 4.390.000đồng.
[7] Về vấn đề khác: Đối với người đàn ông mua tài sản do bị cáo Đ trộm cắp, hiện chưa xác định lai lịch, nhân thân nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 tiếp tục truy xét, khi nào có sẽ xử lý sau là có căn cứ.
[8] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hồng Phúc Đ phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng Phúc Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hồng Phúc Đ 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 15/6/2023.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự
Buộc bị cáo Nguyễn Hồng Phúc Đ bồi thường cho Công ty cổ phần T3 dộng số tiền là 4.390.000đồng (Bốn triệu ba trăm chín mươi ngàn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- + Tịch thu tiêu huỷ: 01 áo thun ngắn tay màu xanh dương có dòng chữ Điện Máy X; 01 đôi giầy tây màu đen; 01 quần dài màu đen và 01 túi đeo vải màu đen.
- + Chi trả cho Công ty Cổ phần T4 số tiền Ngân hàng N1 7.600.000đồng (Bảy triệu sáu trăm ngàn đồng).
- (Theo quyết định chuyển vật chứng số 171/QĐ-VKS ngày 26/9/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh)
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Hồng Phúc Đ phải nộp 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, tổng cộng là 500.000đồng (Năm trăm ngàn đồng).
Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm ngày) ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đặng Thuỳ Trang |
Bản án số 215/2023/HS-ST ngày 30/10/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 215/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/10/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
