|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 215/2024/HS-ST
Ngày 29-7-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Ngọc Công.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trịnh Văn Lực;
- Bà Nguyễn Thị Kim Hoa.
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Việt Hà, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm: Phòng xử án A - Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và điểm cầu thành phần: Phòng hỏi cung - Công an thành phố D xét xử sơ thẩm công khai bằng hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 220/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 233/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Cao V, sinh năm 1989 tại Thành phố Hồ Chí Minh; thường trú: Số B đường N, tổ dân phố E, khu phố D, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Số A đường số C, cư xá L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Bảo vệ; trình độ học vấn: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; giới tính: Nam; con ông Nguyễn Cao T, sinh năm 1965 và Nguyễn Thị Kim C, sinh năm 1965; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/01/2024 cho đến nay; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị Kim C, sinh năm 1965; địa chỉ: Số B đường N, tổ dân phố E, khu phố D, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
*Người tham gia tố tụng khác:
- Người chứng kiến: Anh Dương Minh H; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 15 phút, ngày 15/01/2024, Công an Đồn khu công nghiệp S phối hợp với bảo vệ khu công nghiệp S 1 tuần tra trên địa bàn, khi đến trước Công ty H1, địa chỉ Lô H, đường số F, khu công nghiệp S, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương phát hiện Nguyễn Cao V đang điều khiển xe mô tô biển số 59T2 - 362.45 nên yêu cầu dừng xe kiểm tra. Qua kiểm tra, lực lượng Công an phát hiện trong túi áo trên ngực bên trái có 01 túi nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng, V khai nhận là ma túy nên lực lượng Công an Đồn khu công nghiệp S đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng vật chứng.
Quá trình điều tra xác định: Nguyễn Cao V là người sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 14/01/2024, V sử dụng tài khoản Messenger tên “Nguyễn Văn " đăng nhập trên điện thoại di động Samsung A71 của mình nhăn tin cho tài khoản có tên “Trucmy Pham”, hỏi mua 200.000 đồng ma tuý thì được đối tượng bán ma túy hẹn V vào ngày 15/01/2024 sẽ thuê người chạy G giao đến cho V. Cùng ngày, đối tượng trên cho một người (không rõ nhân thân, lai lịch) mặc áo G1 đến lấy 200.000 đồng tiền ma tuý từ V.
Đến khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 15/01/2024, V điều khiển xe mô tô biển số 59T2 – 362.45 chạy ra trụ ATM tại đường số B, khu công nghiệp S, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương để rút tiền, khi V vừa bước ra khỏi chỗ rút tiền thì thấy có một đối tượng mặc áo G1 ở đầu đường số B nên V điều khiển xe chạy lại hỏi có phải anh ở S xuống không thì được đối tượng trả lời là đúng và hỏi lại có phải là Văn không, sau khi xác nhận là đúng, đối tượng giao hàng đã đưa cho V 01 (một) túi lì xì bằng giấy màu đỏ, Văn nhận và mở ra thì thấy bên trong có 01 túi nylon chứa ma tuý, V vứt túi lì xì và cất túi nylon vào túi áo bên trái đang mặc trên người, điều khiển xe về nơi làm việc, khi đến trước Công ty H1, địa chỉ Lô H, đường số F, khu công nghiệp S, thành phố D, tỉnh Bình Dương thì bị lực lượng Công an kiểm tra, bắt quả tang.
- Vật chứng thu giữ gồm: 01 (một) túi nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng, 01 (một) điện thoại di động hiệu S A71 và 01 (một) mô tô biển số 59T2 - 362.45.
* Căn cứ Kết luận giám định số: 519/KL-KTHS (MT) ngày 22/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng M = 0,2337 gam, loại Methamphetamine.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về Kết luận giám định số: 519/KL-KTHS (MT) ngày 22/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh B.
- Đối với đối tượng mặc áo G1 giao ma túy cho bị cáo Nguyễn Cao V, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương đã tiến hành rà soát trên địa bàn khu Công nghiệp S nhưng không xác định được người đàn ông khoảng 40 tuổi, mặc áo G1 đi xe mô tô như bị cáo V mô tả nên Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
- Đối với đối tượng bán ma túy cho bị cáo Nguyễn Cao V, có tài khoản facebook tên “Trucmy pham”, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã tiến hành trưng cầu giám định trích xuất dữ liệu tin nhắn messenger trên điện thoại Samsung A71 của bị cáo V nhưng không có thông tin về nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
Tại Cáo trạng số: 237/CT-VKS-DA ngày 08 tháng 7 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Cao V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, trong phần tranh tụng đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã nêu, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Nguyễn Cao V với mức hình phạt từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
* Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 519/PC09 của Phòng K Công an tỉnh B, có khối lượng ma túy sau giám định M = 0,203 gam, loại Methamphetamine, là vật cầm lưu thông nên đề nghị tịch thu tiêu hủy;
- Đối với 01 (một) xe mô tô biển số 59T2 - 36245, do bà Nguyễn Thị Kim C, sinh năm: 1965; thường trú: Số B đường N, tổ dân phố E, khu phố D, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh đứng tên chủ sở hữu. Quá trình điều tra xác định, bà C cho bị cáo Văn mượn xe làm phương tiện đi lại, bị cáo V dùng xe mô trên để mua ma túy, bà C không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã trả lại xe mô tô trên cho bà C.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu S Galaxy A71, có gắn 02 sim, sim 1 số 0764599757, sim 2 số 0899765494, số I: 353408114795535. Đây là phương tiện bị cáo Nguyễn Cao V dùng là phương tiện công cụ phạm tội nên đề nghị tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước đối với điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A71 và tịch thu tiêu hủy 02 sim số nêu trên.
Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, khung hình phạt, xử lý vật chứng đồng thời trong lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình tố tụng, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về căn cứ xác định bị cáo phạm tội: Căn cứ vào lời khai của bị cáo và người chứng kiến; biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 15/01/2024, Kết luận giám định số 519/KL-KTHS (MT) ngày 22/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh B và những chứng cứ, tài liệu được thu thập trong hồ sơ vụ án, xác định: Khoảng 10 giờ 15 phút ngày 15/01/2024, tại trước cổng Công ty H1, địa chỉ Lô H, đường số F, khu công nghiệp S, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Công an Đồn khu công nghiệp S phối hợp với bảo vệ khu công nghiệp S tuần tra phát hiện bắt quả tang Nguyễn Cao V có hành vi tàng trữ 01 (một) gói nylon miệng hàn kín chứa tinh thể màu trắng là ma túy, có khối lượng 0,2337 gam loại Methamphetamine.
Như vậy, hành vi tàng trữ ma túy có khối lượng 0,2337 gam loại Methamphetamine của bị cáo Nguyễn Cao V với mục đích để sử dụng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Do đó, Cáo trạng số: 237/CT-VKS-DA ngày 08 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát thành phố D, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo cũng như bản luận tội của Kiểm sát viên đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[6] Về nhân thân: Bị cáo là người chưa có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên, bị cáo là người sử dụng trái phép chất ma túy nên cũng cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
[7] Về hình phạt:
- Hình phạt chính: Xét bị cáo phạm tội nghiêm trọng, đã xâm phạm vào sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma tuý, đồng thời bản thân bị cáo là người sử dụng trái phép chất ma túy, hành vi phạm tội của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.
- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, áp dụng phạt tù cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[8] Về xử lý vật chứng:
- Xét 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 519/PC09 của Phòng K Công an tỉnh B, có khối lượng ma túy sau giám định M = 0,203 gam, loại Methamphetamine, là vật cầm lưu thông nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Xét với 01 (một) điện thoại di động hiệu S Galaxy A71, có gắn 02 sim, sim 1 số 0764599757, sim 2 số 0899765494, số I: 353408114795535. Đây là phương tiện bị cáo Nguyễn Cao V dùng là phương tiện công cụ phạm tội nên đề cần thu sung vào Ngân sách Nhà nước đối với điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A71 và tịch thu tiêu hủy 02 sim số nêu trên.
- Đối với 01 (một) xe mô tô biển số 59T2 - 36245, do bà Nguyễn Thị Kim C, sinh năm: 1965; thường trú: Số B đường N, tổ dân phố E, khu phố D, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh đứng tên chủ sở hữu. Quá trình điều tra xác định, bà C cho bị cáo Văn mượn xe làm phương tiện đi lại, bị cáo V dùng xe mô trên để mua ma túy, bà C không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã trả lại xe mô tô trên cho bà C nên không đặt ra xem xét.
[9] Đối với đối tượng mặc áo G1 giao ma túy cho bị cáo Nguyễn Cao V, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương đã tiến hành rà soát trên địa bàn khu Công nghiệp S nhưng không xác định được người đàn ông khoảng 40 tuổi, mặc áo G1 đi xe mô tô như bị cáo V mô tả nên Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau và đối với đối tượng bán ma túy cho bị cáo Nguyễn Cao V, có tài khoản facebook tên “Trucmy pham”, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã tiến hành trưng cầu giám định trích xuất dữ liệu tin nhắn messenger trên điện thoại Samsung A71 của bị cáo V nhưng không có thông tin về nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau, là đúng theo quy định của pháp luật.
[10] Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thành phố D, tỉnh Bình Dương đưa ra tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, mức hình phạt đối với bị cáo cũng như việc xử lý vật chứng là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử do vậy được chấp nhận.
[11] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Cao V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Cao V 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/01/2024.
-
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 89; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 519/PC09 của Phòng K Công an tỉnh B, có khối lượng ma túy sau giám định M = 0,203 gam, loại Methamphetamine và các sim số 0764599757, 0899765494.
- - Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A71, số Imei: 353408114795535
- (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/7/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An).
-
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Cao V phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 215/2024/HS-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 215/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tàng trữ ma túy
