Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẦN VĂN THỜI

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 215/2024/DS-ST

Ngày 29 - 7 - 2024

V/v Tranh chấp về thừa kế tài sản là

quyền sử dụng đất, hợp đồng tặng

cho quyền sử dụng đất, hợp đồng tín

dụng, hợp đồng thế chấp tài sản là

quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Huỳnh Hải.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Bùi Xuân Minh.

Ông Hồ Quang Minh.

- Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Thêu - Thư ký Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời tham gia phiên tòa: Bà Trần Hồng Cẩm – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 24, 25 và 29 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 290/2023/TLST-DS ngày 19/4/2023 về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản là quyền sử dụng đất, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 223/2024/QĐXXST-DS ngày 29/5/2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Lê Hữu D, sinh năm 1977.

    Địa chỉ: Ấp D, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Văn N – Đoàn luật sư tỉnh C – Hành nghề tại Văn phòng L1.

    Địa chỉ: Số C, T, khóm A, phường T, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

  2. Bị đơn: Ông Lê Hữu T, sinh năm 1975.

    Địa chỉ: Ấp D, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    Lê Ánh N1, sinh năm 1962. (Có yêu cầu độc lập đối với bị đơn).

    Địa chỉ: Ấp D, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà N1: Luật sư Nguyễn Văn N – Đoàn luật sư tỉnh C – Hành nghề tại Văn phòng L1.

    Địa chỉ: Số C, T, khóm A, phường T, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

    Nguyễn Kim Đ, sinh năm 1975.

    Chị Lê Thị Huyền T1, sinh năm 1998.

    Chị Lê Thị Thế T2, sinh năm 2005.

    Anh Lê Chí Đ1.

    Người đại diện hợp pháp của anh Đ1: Ông Lê Hữu T và bà Trần Kim Đ2 – Là người đại diện theo pháp luật.

    Anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 1987.

    Trần Kim N2, sinh năm 1953.

    Anh Lê Hữu C, sinh năm 1973.

    Chị Lê Bích T4, sinh năm 1975.

    Anh Lê Việt T5, sinh năm 1976.

    Chị Lê Hồng G, sinh năm 1979.

    Ông Lê Hoàng D1, sinh năm 1952.

    Nguyễn Thị T6.

    Chị Lê Thị Bích T7.

    Anh Lê Hoàng L.

    Người đại diện hợp pháp của anh L: Ông Lê Hoàng D1 và bà Nguyễn Thị T6 – Là người đại diện theo pháp luật (Cha mẹ ruột).

    Chị Lê Ngọc B.

    Anh Lê Quốc D2.

    Chị Nguyễn Thị Hồng C1.

    Lê Hồng T8, sinh năm 1958.

    Cùng địa chỉ: Ấp D, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

    Lê Ánh H, sinh năm 1968.

    Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.

    Lê Thị T9, sinh năm 1955.

    Địa chỉ: Ấp V, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.

    Lê Hồng C2, sinh năm 1961.

    Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.

    Lê Thúy N3, sinh năm 1964.

    Địa chỉ: Ấp P, xã L, huyện T, tỉnh Cà Mau.

    Lê Hồng T10, sinh năm 1969.

    Địa chỉ: Ấp G, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

    Lê Hồng Ú, sinh năm 1971.

    Địa chỉ: Ấp V, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

    Chị Lê Xuân M, sinh năm 1981.

    Địa chỉ: Khóm H, thị trấn C, huyện P, tỉnh Cà Mau.

    Trần Kim B1, sinh năm 1957.

    Anh Lê Hoài Â, sinh năm 1983.

    Cùng địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.

    Ngân hàng N4. (Gọi tắt là Ngân hàng).

    Địa chỉ trụ sở: Số B, đường L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V – Chức vụ: Tổng giám đốc.

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn T11 – Chức vụ: Trưởng phòng Tổng hợp Ngân hàng chi nhánh tỉnh C kiêm nhiệm phụ trách điều hành Ngân hàng chi nhánh huyện T, tỉnh Cà Mau. (Theo Quyết định ủy quyền số: 2665/QĐ-NHNo-PC ngày 01/12/2022 của Người đại diện theo pháp luật của Ngân hàng N4).

    Người được ông T11 ủy quyền lại: Ông Châu Đông D3 – Chức vụ: Trưởng phòng kế hoạch kinh doanh chi nhánh huyện T, tỉnh Cà Mau. (Theo Quyết định ủy quyền số: 91/NHNoTVT-TH ngày 15/3/2024 của phụ trách điều hành Ngân hàng N4 chi nhánh huyện T, tỉnh Cà Mau).

    Địa chỉ: Khóm I, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Ông D, ông T, bà N1, luật sư N, ông D3, chị Huyền T12, chị Thế T13, bà T8, bà T10, bà Ú có mặt. Chị M có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tất cả các đương sự khác có mặt tại phiên tòa không rõ lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và đơn khởi kiện bổ sung của nguyên đơn, lời trình bày của nguyên đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn có tại hồ sơ và tại phiên toà, thể hiện: Cha tên Lê Thành V1 (chết năm 2018) và mẹ Trần Thị T14 (chết năm 1999). Ông bà nội, ông bà ngoại đều đã chết. Cha mẹ không có con nuôi, không có cha mẹ nuôi. Ông V1 và bà T14 có tất cả 14 người con: Lê Thành C3 (chết có vợ tên Trần Kim N2, con tên Lê Hữu C, Lê Bích T4, Lê Việt T5, Lê Hồng G, Lê Xuân M), Lê Hoàng D1, Lê Thị T9, Lê Chí T15 (chết có vợ tên Trần Kim B1, con tên Lê Hoài Â), Lê Hồng T8, Lê Hồng C2, Lê Ánh N1, Lê Thúy N3, Lê Thị H1 (chết lúc nhỏ), Lê Ánh H, Lê Hồng T10, Lê Hồng Ú, Lê Hữu T, Lê Hữu D.

Nguồn gốc đất của cha mẹ khai phá và quản lý sử dụng ổn định đến năm 1991 thì được cấp quyền sử dụng đất (QSDĐ) diện tích 32.410 m² tại các thửa đất 96, 120, 108, 112 – tờ bản đồ số 07 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSD) số: A 201064 của Uỷ ban nhân dân (UBND) huyện T, tỉnh Cà Mau cấp ngày 10/7/1991 cho ông Lê Thành V1 đứng tên.

Sinh thời khi còn sống vào năm 2008 thì cha mẹ đã phân chia và giao đất cho ông Lê Hữu D 01 phần đất nền nhà ngang 18 mét X dài đến hết bờ ngang giáp ruộng (đất giáp ông Lê Thành C3 và bà Lê Ánh N1) và 01 phần đất ruộng 05 công tầm lớn (Tổng diện tích đất theo đo đạc thực tế là 8.387,5 m² (Trong đó: 1.361,4 m² đất ở tại nông thôn và đất trồng cây lâu năm, 7.026,1 m² đất trồng lúa nước)).

Năm 2014 ông Lê Hữu T có đặt điều kiện mượn GCNQSDĐ của ông Lê Thành V1 để vay tiền cất nhà thì được ông V1 đồng ý (chứ tất cả các anh chị em không đồng ý), thời điểm này không biết ông T lập thủ tục chuyển tên QSDĐ sang cho ông T đứng tên.

Đến năm 2018 khi ông Lê Thành V1 còn minh mẫn thì có mời chính quyền địa phương và các con tổ chức họp gia đình để phân chia đất, việc họp có lập “Biên bản họp gia đình ngày 04/8/2018 nhằm ngày 24/6/2018 âm lịch”, tham gia họp gồm có ông Phạm Minh C4, ông Nguyễn Minh Đ3, ông Từ Văn V2, bà Võ Thị Hồng E, bà Lê Thị M1 và các con gồm có ông Lê Hoàng D1, bà Lê Thị T9, bà Lê Hồng T8, bà Lê Ánh N1, bà Lê Hồng Ú, bà Lê Hồng T10, vợ chồng ông Lê Hữu T, con rễ ông Phạm Thanh T16 là con rễ ghi biên bản, nội dung họp gia đình phân chia đất cho ông Lê Hữu D, bà Lê Ánh N1, Lê Hữu T, Lê Hoàng D1, Trần Kim N2 (theo hiện trạng ông V1 đã phân chia và giao đất trước đây), các phần đất nền nhà đều có chiều dài đến hết bờ ngang giáp ruộng như nhau, toàn bộ phần đất còn lại chia cho ông T nhưng với điều kiện là phải phụng dưỡng ông V1 đến trăm tuổi già và thờ cúng sau này. Mục đích ông V1 họp gia đình là nhằm để lại thừa kế cho các con và ông D xác định biên bản họp gia đình là di chúc thể hiện ý nguyện của ông V1 chia đất cho các con sau khi chết.

Sau thời điểm họp gia đình thì ông D yêu cầu ông T tách QSDĐ thì mới biết là ông T lập thủ tục chuyển tên QSDĐ qua ông T đứng tên và thế chấp cho Ngân hàng, nên phát sinh tranh chấp và ông T hứa chuộc GCNQSDĐ từ Ngân hàng về sẽ thực hiện tách QSDĐ sau, nhưng cho đến nay ông T không thực hiện và còn tranh giành phần bờ ngang giáp ruộng, nên tiếp tục phát sinh tranh chấp. Thống nhất kết quả đo đạc và thẩm định giá tài sản.

Nay yêu cầu được chia thừa kế tổng diện tích đất theo đo đạc thực tế 8.387,5 m² (Trong đó: 1.361,4 m² đất ở tại nông thôn và đất trồng cây lâu năm, 7.026,1 m² đất trồng lúa nước) theo di chúc; yêu cầu tuyên bố vô hiệu 01 phần hợp đồng tặng cho QSDĐ giữa ông Lê Thành V1 với ông Lê Hữu T và yêu cầu tuyên bố vô hiệu 01 phần hợp đồng thế chấp tài sản là QSDĐ giữa Ngân hàng với ông Lê Hữu T đối với phần đất yêu cầu chia thừa kế. Về chi phí tố tụng ông D tự nguyện chịu toàn bộ.

- Lời trình bày của bị đơn có tại hồ sơ và tại phiên toà, thể hiện:

Thống nhất với lời trình bày của ông Lê Hữu D về quan hệ huyết thống và nguồn gốc đất.

Sinh thời khi còn sống vào năm 2012 thì ông Lê Thành Văn c nói miệng giao cho ông Lê Hữu D 01 nền nhà ngang 18 mét X 30 mét (giáp bờ ngang đất vườn giáp đất ông Lê Thành C3 và bà Trần Kim N2) và 01 phần đất ruộng 05 công tầm lớn, toàn bộ phần đất còn lại giao cho vợ chồng ông T quản lý, thời điểm này thì không có cho đất ai khác.

Năm 2014 ông Lê Thành V1 chuyển tên toàn bộ phần đất cho ông T đứng tên GCNQSDĐ, sau đó vợ chồng ông T vay tiền Ngân hàng cất nhà và thế chấp QSDĐ cho Ngân hàng đến nay vẫn còn dư nợ.

Đến năm 2018 khi ông Lê Thành V1 còn minh mẫn thì có mời chính quyền địa phương và các con họp gia đình để phân chia đất, việc họp có lập “Biên bản họp gia đình ngày 04/8/2018 nhằm ngày 24/6/2018 âm lịch” tham gia họp gồm có ông Phạm Minh C4, ông Nguyễn Minh Đ3, ông Từ Văn V2, bà Võ Thị Hồng E, bà Lê Thị M1 và các con gồm có ông Lê Hoàng D1, bà Lê Ánh N1, vợ chồng bà Lê Hồng Ú, vợ chồng ông T, biên bản do ông T16 chồng bà Ú ghi biên bản, nội dung họp gia đình phân chia đất cụ thể ông D được chia 01 nền đất ngang 18 mét X dài 30 mét (giáp bờ ngang đất vườn giáp đất ông C3 và bà N2) và 05 công đất ruộng tầm lớn, bà Lê Ánh N1 được chia 01 nền đất ngang 18 mét X dài 30 mét (giáp bờ ngang đất vườn giáp đất ông D) và 02 công đất ruộng tầm lớn, tổng số đất còn lại là của ông T; việc biên bản có nội dung nêu tặng cho đất ông Lê Thành C3, ông Lê Hoàng D1 là chỉ nhắc lại chứ các phần đất này đã cho trước từ lâu; lý do họp gia đình chia đất cho các con là do ông V1 thấy ông D và bà N1 không có đất ở và canh tác, nên mới kêu vợ chồng ông T cho lại. Mục đích ông V1 họp gia đình là nhằm để lại thừa kế cho các con và ông T xác định biên bản họp gia đình là di chúc thể hiện ý nguyện của ông V1 chia đất cho các con sau khi chết.

Thống nhất kết quả đo đạc và thẩm định giá tài sản. Đối với việc uỷ quyền cho ông Lê Sơn T17 và ông Trần Đông H2, đã chấm dứt uỷ quyền, ông T tự thực hiện quyền và nghĩa vụ tại phiên toà theo quy định.

Tại phiên toà ông T tự nguyện và đồng ý công nhận thừa kế cho:

+ Ông D phần đất theo đo đạc thực tế 8.387,5 m² (Trong đó: 1.361,4 m² đất ở tại nông thôn và đất trồng cây lâu năm, 7.026,1 m² đất trồng lúa nước).

+ Bà Nguyệt phần đất theo đo đạc thực tế 3.961,6 m² (Trong đó: 1.370,7 m² đất ở tại nông thôn và đất trồng cây lâu năm, 2.590,9 m² đất trồng lúa nước).

+ Thống nhất đề nghị Toà án xem xét tuyên bố vô hiệu 01 phần hợp đồng tặng cho QSDĐ giữa ông V1 với ông T và tuyên bố vô hiệu 01 phần hợp đồng thế chấp tài sản là QSDĐ giữa Ngân hàng với ông T đối với phần đất yêu cầu chia thừa kế.

+ Đồng ý xử lý tài sản thế chấp, nếu bà Đ2 không thanh toán được nợ cho Ngân hàng.

- Theo đơn yêu cầu độc lập và đơn yêu cầu độc lập bổ sung của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Ánh N1 có tại hồ sơ và tại phiên toà, thể hiện:

Thống nhất với toàn bộ lời trình bày của ông D.

Sinh thời khi còn sống vào năm 2008 thì cha mẹ đã phân chia và giao đất cho bà N1 01 phần đất nền nhà ngang 18 mét X dài đến hết bờ ngang giáp ruộng (giáp đất ông D1 và ông D) và 02 công đất ruộng tầm lớn (Tổng diện tích theo đo đạc thực tế là 3.961,6 m² (Trong đó: 1.370,7 m² đất ở tại nông thôn và đất trồng cây lâu năm, 2.590,9 m² đất trồng lúa nước)); sau khi được cho đất thì bà N1 cho ông T mượn sử dụng để nuôi cha mẹ (đến năm 2014 chuyển qua cho thuê, đến năm 2018 lấy lại đất sử dụng cho đến nay. Mục đích ông V1 họp gia đình là nhằm để lại thừa kế cho các con và ông D xác định biên bản họp gia đình là di chúc thể hiện ý nguyện của ông V1 chia đất cho các con sau khi chết. Thống nhất kết quả đo đạc và thẩm định giá tài sản.

Nay yêu cầu được chia thừa kế tổng diện tích đất theo đo đạc thực tế 3.961,6 m² (Trong đó: 1.370,7 m² đất ở tại nông thôn và đất trồng cây lâu năm, 2.590,9 m² đất trồng lúa nước) theo di chúc; yêu cầu tuyên bố vô hiệu 01 phần hợp đồng tặng cho QSDĐ giữa ông Lê Thành V1 với ông Lê Hữu T và yêu cầu tuyên bố vô hiệu 01 phần hợp đồng thế chấp tài sản là QSDĐ giữa Ngân hàng với ông Lê Hữu T đối với phần đất yêu cầu chia thừa kế.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông D và bà N1 đưa ra các lý lẽ và lập luận để chứng minh cho ý kiến và yêu cầu của ông D và bà N1, như sau:

Thứ nhất, qua quá trình xét hỏi và tranh luận giữa các đương sự bao gồm nguyên đơn Lê Hữu D, bị đơn Lê Hữu T và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lê Ánh N1 và bà Nguyễn Kim Đ đều thống nhất về việc đồng ý vô hiệu 01 phần hợp đồng tặng cho QSDĐ giữa ông V1 và ông T và thống nhất chia thừa kế cho ông D phần đất có diện tích 8.370m² (bao gồm đất thổ cư: 1,890m², đất ruộng là 6.480m²) và cho bà N1 phần đất có diện tích 2.592m² và phần đất mặt tiền giáp Kinh ngay diện tích 1.370,7m² tọa lạc ấp D, xã K, huyện T, Cà Mau. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận giữa các đương sự về các vấn đề nêu trên.

Thứ hai, về yêu cầu độc lập của phía ngân hàng về việc phát mãi tài sản thế chấp là không có căn cứ bởi Hợp đồng tín dụng giữa ông T và phía ngân hàng là chưa phù hợp với quy định của pháp luật. Bởi tại phiên tòa hôm nay các đương sự đều thống nhất về nguồn gốc đất tranh chấp là của cha mẹ (là ông V1 và bà T14) tạo lập, đây là tài sản chung của vợ chồng ông V1, bà T14. Năm 1991 ông V1 được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận QSDĐ với tổng diện tích: 32.410m². Đến năm 1999 bà T14 chết không để lại di chúc hoặc chia thừa kế cho ông T phần đất nêu trên. Năm 2014 ông V1 lập hợp đồng tặng cho ông T toàn bộ diện tích đất 32.410m² tọa lạc tại: ấp D, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau. Từ đó ông T được điều chỉnh trang 04 tại giấy CNQSDĐ. Việc lập hợp đồng tặng cho nêu trên giữa ông V1 và ông T không phù hợp với quy định của pháp luật. Theo quy định ông T phải lập thủ tục phân chia di sản và khai nhận di sản thừa kế.

Thứ ba, việc ký kết hợp đồng thế chấp giữa ông T và phía Ngân hàng là không phù hợp, bởi khi ký kết hợp đồng thế chấp phía Ngân hàng không kiểm tra, xác minh tài sản thế chấp, vì trên phần đất thế chấp đã có chủ quản lý, sử dụng từ đó dẫn đến sai quy trình trong việc cho vay của ngân hàng. Đồng thời, tại phiên tòa hôm nay phía ngân hàng cũng đã thừa nhận khi cho vay, ngân hàng chỉ dựa vào biên bản làm việc với khách hàng để ký kết hợp đồng thế chấp với bên ông T.

Từ các căn cứ trên và lập luận nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông D và yêu cầu độc lập của bà N1.

- Theo đơn yêu cầu độc lập và lời trình bày của người đại diện cho Ngân hàng có tại hồ sơ và tại phiên toà, thể hiện:

Giữa Ngân hàng và bà Nguyễn Kim Đ có quan hệ tín tụng bắt đầu từ năm 2014 cho đến nay. Hợp đồng có tranh chấp là năm 2022, cụ thể: Ngày 20/12/2022 giữa Ngân hàng và bà Đ ký kết hợp đồng tín dụng số: 7504 - LAV – 202206072/HĐTD với hạn mức cho vay 230.000.000 đồng, lãi suất trong hạn 10,8%/năm (lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn), sau khi ký hợp đồng thì Ngân hàng đã giải ngân số tiền 193.000.000 đồng theo giấy nhận nợ ngày 20/12/2022; ngày 20/12/2022 ký kết hợp đồng tín dụng số: 7504 - LAV – 202206073/HĐTD với hạn mức cho vay 250.000.000 đồng, lãi suất trong hạn 10,8%/năm (lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn), sau khi ký hợp đồng thì Ngân hàng đã giải ngân số tiền 250.000.000 đồng theo giấy nhận nợ ngày 20/12/2022. Tổng các khoản nợ theo các hợp đồng tín dụng là 443.000.000 đồng. Để đảm bảo cho các khoản nợ vay ông T và bà Đ thế chấp toàn bộ QSDĐ diện tích 32.410 m² tại các thửa đất 96, 120, 108, 112 – tờ bản đồ số 07 theo GCNQSD số: A 201064 của UBND huyện T, tỉnh Cà Mau cấp ngày 10/7/1991 (đã được chỉnh lý sang tên cho ông Lê Hữu T ngày 25/01/2014 theo hợp hồ sơ số: 13 ngày 25/01/2014) theo hợp đồng thế chấp số: A4 0220/HĐTC ngày 27/01/2014. Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng thì bà Đ đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Tổng dư nợ đến ngày 20/3/2024 là 458.954.554 đồng (Trong đó, nợ gốc là 443.000.000 đồng, nợ lãi là 15.954.554 đồng).

Tranh luận: Tại Điều 3 hợp đồng thế chấp thì nghĩa vụ của bên thế chấp không được tặng cho tài sản cho người khác, hợp đồng thế chấp tài sản lập năm 2014 (thời điểm thế chấp tài sản thì bên thế chấp không khai báo trung thực về tài sản thế chấp), đến năm 2018 mới tặng cho tài sản là không phù hợp, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

Nay yêu cầu Toà án buộc bà Đ có nghĩa vụ thanh toán toàn bộ khoản nợ nêu trên, trường hợp bà Đ không thanh toán được toàn bộ khoản nợ thì yêu cầu duy trì toàn bộ tài sản thế chấp để đảm bảo việc thi hành án cho Ngân hàng. Yêu cầu bà Đ hoàn trả chi phí tố tụng. Đối với các yêu cầu tuyên bố vô hiệu 01 phần hợp đồng thế chấp thì không đồng ý.

- Lời trình bày người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Kim Đ có tại hồ sơ và tại phiên toà, thể hiện:

Đ thống nhất với lời trình bày, ý kiến và yêu cầu của ông T và người đại diện cho Ngân hàng.

Nay đồng ý công nhận thừa kế theo biên bản họp gia đình đối với các phần đất theo đo đạc thực tế cho ông D và bà N1. Đồng ý thanh toán toàn bộ khoản nợ theo yêu cầu của Ngân hàng và đồng ý xử lý tài sản thế chấp, nên không thanh toán được nợ, đồng ý hoàn trả chi phí tố tụng.

- Lời trình bày người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Hồng Ú, bà Lê Thị T18, bà Lê Hồng T10, bà Lê Hồng T8 có tại hồ sơ và tại phiên toà, thể hiện:

Các bà là người trực tiếp tham gia cuộc họp gia đình phân chia đất của ông V1, xác định các phần đất ông D, bà N1, ông D1 được cho có chiều dài đến hết bờ ngang giáp ruộng; đối với phần mương ở giữa đất ông D1N1 thì làm đường nước chung. Mục đích ông V1 họp gia đình là nhằm để lại thừa kế cho các con và biên bản họp gia đình là di chúc thể hiện ý nguyện của ông V1 chia đất cho các con sau khi chết.

Thống nhất với lời trình bày và yêu cầu của ông D và bà N1 và không có yêu cầu gì trong vụ án.

- Lời trình bày người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Lê Xuân M có tại hồ sơ, thể hiện: Xác định không liên quan quyền lợi, nghĩa vụ gì đến việc giải quyết vụ án, từ chối tham gia tố tụng; trường hợp có tham gia thì đề nghị xét xử vắng mặt.

- Lời trình bày người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Hoàng D1, bà Trần Kim N2 có tại hồ sơ, thể hiện: Phần đất ông D được cho có chiều dài vừa đụn mí bờ ngang trong vườn, ông D yêu cầu phần đất 8.370 m² là bao gồm cả phần bờ và đìa là dư so với biên bản họp gia đình.

· Đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia tố tụng, nhưng đều vắng mặt không rõ lý do, nên không ghi nhận được ý kiến.

- Tại các bản trích đo hiện trạng ngày 23/7/2024 của Công ty TNHH -, thể hiện:

+ Diện tích đất tranh chấp giữa ông D với ông T có diện tích 8.387,5 m² – (Trong đó: 1.361,4 m² (đất ở + cây lâu năm) – tại thửa số 4, 8 theo bản vẽ và 7,026,1 m² (đất trồng lúa) – tại thửa số 2 theo bản vẽ) - đất tọa lạc tại ấp D, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau – được trích đo từ một phần thửa đất số 41, 64, 452 – tờ bản đồ số 9 – bản đồ địa chính chỉnh lý năm 2023 (tương ứng với một phần thửa đất số 96, 112, 118 và thửa 120 – tờ bản đồ số 7 (bản đồ 299) – theo GCNQSD số: A 201064 của UBND huyện T, tỉnh Cà Mau cấp ngày 10/7/1991.

+ Diện tích đất tranh chấp giữa bà N1 với ông T có diện tích 3.961,6 m² – (Trong đó: 1.370,7 m² (đất ở + cây lâu năm) – tại thửa số 3, 6, 7, 9 theo bản vẽ và 2.590,9 m² (đất trồng lúa) – tại thửa số 1 theo bản vẽ) - đất tọa lạc tại ấp D, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau – được trích đo từ một phần thửa đất số 41, 64, 452 – tờ bản đồ số 9 – bản đồ địa chính chỉnh lý năm 2023 (tương ứng với một phần thửa đất số 96, 112, 118 và thửa 120 – tờ bản đồ số 7 (bản đồ 299) – theo GCNQSD số: A 201064 của UBND huyện T, tỉnh Cà Mau cấp ngày 10/7/1991.

- Chứng thư thẩm định giá số: 315/2023/CT-TĐG ngày 08/12/2023 của Công ty CP T19, thể hiện:

+ Quyền sử dụng đất có tranh chấp giữa ông D với ông T diện tích 8.387,5 m² có tổng giá trị 728.976.500 đồng.

+ Quyền sử dụng đất có tranh chấp giữa bà N1 với ông T diện tích 3.961,6 m² có tổng giá trị 442.584.500 đồng.

- Chi phí tố tụng:

Nguyên đơn ông Lê Hữu D đã dự nộp trước và thực hiện xong bao gồm chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ 600.000 đồng, chi phí thẩm định giá tài sản 13.727.880 đồng, chi phí đo đạc 20.196.000 đồng. Tổng số tiền là 34.523.880 đồng.

- Tại phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên phát biểu:

Ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự và người tham gia tố tụng khác trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tiến hành và thực hiện đúng theo quy định. Đối với các đương sự vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, đã không chấp hành đúng nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông D và bà N1, công nhận sự thoả thuận giữa các đương sự về nội dung ông D được hưởng thừa kế đối với phần đất có diện tích 8.387,5 m² và bà N1 được hưởng thừa kế đối với phần đất có diện tích 3.961,6 m²; tuyên bố vô hiệu 01 phần hợp đồng tặng cho QSDĐ ông V1 với ông T đối với phần đất các phần đất chia thừa kế cho ông D và bà N1. Chấp nhận 01 phần yêu cầu của Ngân hàng, buộc bà Đ phải có trách nhiệm trả số tiền 458.954.554 đồng (Trong đó: Nợ gốc 443.000.000 đồng, nợ lãi 15.954.554 đồng) và lãi phát sinh; tuyên bố vô hiệu 01 phần hợp đồng thế chấp giữa Ngân hàng với ông T đối với (phần đất ông D được chia thừa kế là 8.387,5 m², phần đất bà N1 được chia thừa kế là 3.961,6 m², phần đất 1.339,7 m² gia đình ông D1 đang quản lý sử dụng, phần đất 422,7 m² gia đình bà N2 đang quản lý sử dụng); tiếp tục duy trì tài sản thế chấp là QSDĐ đối với phần đất 32.410 m² (trừ các phần đất bị tuyên bố vô hiệu). Án phí dân sự sơ thẩm, chi phí tố tụng đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.

Từ những nội dung vụ án thể hiện;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Xét về thủ tục:

[1.1] Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để xét xử nhưng đều vắng mặt không rõ lý do; đối với chị M có đề nghị xét xử vắng mặt. Nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) xét xử vắng mặt đối với họ.

[1.2] Trước khi mở phiên toà ông T có uỷ quyền cho ông T17 và ông H2 đại diện theo gia tố tụng, tại phiên toà ông T xác định đã chấm dứt uỷ quyền và tự mình tham gia và thực hiện quyền, nghĩa vụ theo quy định. Xét thấy việc chấm dứt uỷ quyền là hoàn toàn tự nguyện theo ý chí của ông T, nên cần ghi nhận.

[2] Về phạm vi yêu cầu được xem xét trong vụ án: Theo đơn khởi kiện ban đầu ông D yêu cầu huỷ 01 phần hợp đồng tặng cho QSDĐ giữa ông V1 với ông T và yêu cầu công nhận QSDĐ. Quá trình giải quyết vụ án bà N1 có yêu cầu độc lập huỷ 01 phần hợp đồng tặng cho QSDĐ giữa ông V1 với ông T và yêu cầu công nhận QSDĐ, ông D và bà N1 có bổ sung yêu cầu tuyên bố vô hiệu 01 phần hợp đồng thế chấp giữa Ngân hàng với ông T, Ngân hàng yêu cầu độc lập với bà Đ yêu cầu thanh toán nợ vay và xử lý tài sản thế chấp; tại phiên toà ông D và bà N1 thay đổi yêu cầu khởi kiện và yêu cầu độc lập yêu cầu được chia thừa kế QSDĐ và yêu cầu tuyên bố hợp đồng tặng cho QSDĐ vô hiệu. Xét thấy các đương sự đã có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu, thực hiện nghĩa vụ nộp tạm ứng án phí, thuộc trường hợp được miễn tạm ứng án phí và đã được xem xét thụ lý theo quy định trong vụ án này; đồng thời việc thay đổi yêu cầu không vượt quá yêu cầu ban đầu theo quy định tại khoản 1 Điều 244 BLTTDS, nên chấp nhận. Do đó, yêu cầu khởi kiện, yêu cầu độc lập của các đương sự sẽ được xem xét giải quyết trong cùng vụ án này là đúng.

[3] Về quyền khởi kiện, quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Ông D, bà N1 khởi kiện ông T yêu cầu chia thừa kế, yêu cầu tuyên bố vô hiệu 01 phần hợp đồng tặng QSDĐ giữa ông V1 với ông T và 01 phần hợp đồng thế chấp giữa Ngân hàng với ông T; ông T và các đương sự khác trong vụ án cũng xác định việc tranh chấp là thừa kế theo di chúc; Ngân hàng có yêu cầu bà Đ thanh toán nợ vay và xử lý tài sản là QSDĐ theo hợp đồng thế chấp và các đương sự đều có nơi cư trú tại huyện T, tỉnh Cà Mau, nên Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết vụ án dân sự “Tranh chấp về thừa kế tài sản là quyền sử dụng đất, hợp đồng tặng cho QSDĐ, hợp đồng tín dụn, hợp đồng thế chấp tài sản là QSDĐ” là đúng theo quy định tại khoản 3 và khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 186 BLTTDS.

[4] Về nội dung tranh chấp và xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu độc lập của bà N1 và ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, yêu cầu độc lập của Ngân hàng và ý kiến của những người tham gia tố tụng khác:

[4.1] Xét yêu cầu của Ngân hàng và ý kiến của bà Đ, yêu cầu độc lập của ông D và bà N1 về tuyên bố vô hiệu hợp đồng:

[4.1.1] Về hợp đồng tín dụng: Hội đồng xét xử xét thấy bà Đ thừa nhận hiện nay còn nợ tổng số nợ theo lời trình bày của người đại diện Ngân hàng là đúng, lãi suất thỏa thuận theo hợp đồng giữa các bên phù hợp với quy định của pháp luật chuyên ngành và luật chung theo quy định tại Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 470 Bộ luật dân sự (BLDS); Điều 100, Điều 103 Luật các tổ chức tín dụng (LCTCTD); Điều 7, Điều 8, Điều 13 Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tố cao về việc Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm (Nghị quyết 01). Do đó, cần buộc bà Đ có trách nhiệm trả toàn bộ số tiền 458.954.554 đồng (Trong đó: Nợ gốc 443.000.000 đồng, nợ lãi 15.954.554 đồng) cho Ngân hàng N4 đến hết ngày 20/3/2024 và kể từ ngày 21/3/2024 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi theo thoả thuận tại các hợp đồng tín dụng và các giấy nhận nợ cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ.

[4.1.2] Về hợp đồng thế chấp tài sản:

[4.1.2.1] Để đảm bảo nghĩa vụ việc thanh toán cho khoản vay, giữa Ngân hàng và ông T, bà Đ đã ký hợp đồng thế chấp QSDĐ và tài sản gắn liền với đất số: A4 0220/HĐTC được chứng thực ngày 27/01/2014. Hội đồng xét xử xét thấy việc ký kết hợp đồng thế chấp được thực hiện đăng ký giao dịch bảo đảm và hợp đồng có hiệu lực theo quy định tại Điều 317, Điều 318, Điều 319 BLDS; Điều 167, Điều 168, Điều 188 Luật đất đai (LĐĐ); Điều 4, Điều 5, Điều 6 Nghị định số: 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính phủ về việc đăng ký biện pháp bảo đảm (Nghị định 102); Điều 9, Điều 10, Điều 11, Điều 12, Điều 56, Điều 58, Điều 59, Điều 60, Điều 71 Nghị định số: 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị định số: 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ (Nghị định 163).

[4.1.2.2] Tuy nhiên, căn cứ lời trình của các đương sự thì xác định được toàn bộ phần đất trước thời điểm chuyển quyền từ ông V1 sang ông T thì ông V1 đã phân chia và giao cho các con quản lý và sử dụng ổn định trước đó và năm 2018 ông V1 tổ chức họp gia đình để ghi nhận lại về mặt giấy tờ để tránh tranh chấp về sau, nên các con đều thống nhất ký tên xác nhận vào nội dung phân chia đất của ông V1 theo biên bản họp gia đình (trong đó có vợ chồng ông T và bà Đ). Do đó, việc tặng cho QSDĐ từ ông V1 sang ông T chỉ là hợp thức hoá về mặt hình thức, chứ thực tế 01 phần đối tượng hợp đồng không chuyển giao và các bên trong quan hệ hợp đồng đều hiểu rõ vấn đề này, nên có căn cứ xác định 01 phần hợp đồng tặng cho QSDĐ giữa ông V1 với ông T đối với các phần đất được phân chia theo “Biên bản họp gia đình ngày 04/8/2018 nhằm ngày 24/6/2018 âm lịch” là giả tạo, nên cần tuyên bố vô hiệu 01 phần hợp đồng tặng cho QSDĐ được xác lập giữa ông V1 và ông T đối với các phần đất đã phân chia cho ông D, bà N1, ông C3 và bà N2, ông D1 theo biên bản họp gia đình (cụ thể: ông D 8.387,5 m², bà N1 3.961,6 m², ông D1 1.339,7 m², ông C3 và bà N2 422,7 m²) là phù hợp theo quy định tại Điều 116, Điều 122, Điều 124 BLDS.

[4.1.2.3] Do 01 phần hợp đồng tặng cho QSDĐ giữa ông V1 với ông T đối với các phần đất ông D 8.387,5 m², bà N1 3.961,6 m², ông D1 1.339,7 m², ông C3 và bà N2 422,7 m² đã xác định vô hiệu nêu trên, nên chỉ có căn cứ xác định 01 phần hợp đồng thế chấp được xác lập là có hiệu lực và tiếp tục duy trì tài sản thế chấp để đảm bảo việc thi hành án cho Ngân hàng là đúng và cần tuyên bố vô hiệu 01 phần hợp đồng thế chấp đối với các phần đất ông D 8.387,5 m², bà N1 3.961,6 m², ông D1 1.339,7 m², ông C3 và bà N2 422,7 m² là phù hợp.

[4.2] Xét yêu cầu yêu cầu chia thừa kế của ông D và bà N1, ý kiến của bị đơn và các đương sự khác:

[4.2.1] Các đương sự đều thống nhất sinh thời khi còn sống ông Lê Thành V1 có tổ chức họp gia đình phân chia đất cho các con tại “Biên bản họp gia đình ngày 04/8/2018 nhằm ngày 24/6/2018 âm lịch”, trong đó có ông D và bà N1 được cho đất; đồng thời các đương sự cũng xác định biên bản họp gia đình là di chúc thể hiện ý nguyện của ông V1 phân chia đất cho các con sau khi chết.

[4.2.2] “Biên bản họp gia đình ngày 04/8/2018 nhằm ngày 24/6/2018 âm lịch” được xem là di chúc bằng văn bản không được công chứng, chứng thực nhưng có người làm chứng, tại thời điểm lập di chúc ông Lê Thành V1 hoàn toàn minh mẫn, sáng suốt và không bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép; nội dung di chúc không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội, đồng thời thể hiện ý chí tự nguyện của ông Lê Thành V1 chuyển tài sản là QSDĐ các con sau khi chết và di chúc là hợp pháp. Ông Lê Thành V1 hiện nay đã chết, nên “Biên bản họp gia đình ngày 04/8/2018 nhằm ngày 24/6/2018 âm lịch – do ông Lê Thành V1 lập” là di chúc hợp pháp và đang có hiệu lực theo quy định Điều 624, Điều 625, Điều 627, Điều 628, Điều 630, Điều 631, Điều 634, Điều 643 BLDS.

[4.2.3] Tại phiên toà, các đương sự tự nguyện thống nhất và thoả thuận chia thừa kế cho ông D được hưởng thừa kế đối với phần đất có diện tích 8.387,5 m² và bà N1 được hưởng thừa kế đối với phần đất có diện tích 3.961,6 m². Hội đồng xét xử xét thấy việc thoả thuận của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, không trái quy định của pháp luật, nên cần ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận giữa các đương sự về vấn đề này là đúng Điều 609, Điều 611, Điều 612, Điều 613 BLDS.

Từ những lập luận, phân tích, đánh giá chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[5] Xét về chi phí tố tụng: Nguyên đơn ông Lê Hữu D xác định tự chịu toàn bộ chi phí tố tụng, nên ghi nhận. Yêu cầu của Ngân hàng được chấp nhận, nên cần buộc bà Đ hoàn trả chi phí xem xét thẩm định tại chỗ 600.000 đồng cho Ngân hàng nông là đúng theo quy định tại các Điều 155, Điều 156, Điều 157, Điều 158, Điều 163, Điều 164, Điều 165, Điều 166 BLTTDS.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 BLTTDS; Điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a, b khoản 1 Điều 24, khoản 1, 6 Điều 26, điểm b khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án (Nghị quyết 326). Ông D phải chịu án phí có giá ngạch 20.000.000 đồng + 4% của số tiền giá trị tài sản được nhận vượt quá 400.000.000 đồng (giá trị tài sản được xác định của ông D là 728.976.500 đồng); ông T phải chịu án phí không có giá ngạch 300.000 đồng; bà N1 thuộc trường hợp được miễn án phí; bà Đ phải chịu án phí có giá ngạch 20.000.000 đồng + 4% của số tiền phải trả cho Ngân hàng vượt quá 400.000.000 đồng; Ngân hàng phải chịu án phí không giá ngạch 300.000 đồng. Số tiền tạm ứng án phí các đương sự đã dự nộp trước được chuyển sang thu đối trừ

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 và khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 155, Điều 156, Điều 157, Điều 158, Điều 163, Điều 164, Điều 165, Điều 166, Điều 186, Điều 227, Điều 228, Điều 244 BLTTDS; Điều 116, Điều 122, Điều 124, Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 470, Điều 609, Điều 611, Điều 612, Điều 613, Điều 624, Điều 625, Điều 627, Điều 628, Điều 630, Điều 631, Điều 634, Điều 643 BLDS BLDS; Điều 100, Điều 103 LCTCTD; Điều 4, Điều 5, Điều 6 Nghị định số: 102; Điều 9, Điều 10, Điều 11, Điều 12, Điều 56, Điều 58, Điều 59, Điều 60, Điều 71 Nghị định số: 163; Điều 7, Điều 8, Điều 13 Nghị quyết số: 01; Điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a, b khoản 1 Điều 24, khoản 1, 6 Điều 26, điểm b khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số: 326.

  1. Tuyên xử:
    • - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Hữu D.

    • + Ghi nhận sự thoả thuận giữa các đương sự: Ông Lê Hữu D được hưởng thừa kế đối với phần đất có diện tích 8.387,5 m² – (Trong đó: 1.361,4 m² (đất ở + cây lâu năm) – tại thửa số 4, 8 theo bản vẽ và 7,026,1 m² (đất trồng lúa) – tại thửa số 2 theo bản vẽ) - đất tọa lạc tại ấp D, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau – được trích đo từ một phần thửa đất số 41, 64, 452 – tờ bản đồ số 9 – bản đồ địa chính chỉnh lý năm 2023 (tương ứng với một phần thửa đất số 96, 112, 118 và thửa 120 – tờ bản đồ số 7 (bản đồ 299) – theo GCNQSD số: A 201064 của UBND huyện T, tỉnh Cà Mau cấp ngày 10/7/1991.

    • Ông Lê Hữu D được thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất đối với phần đất nêu trên và có quyền, nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền kê khai, đăng ký xin cấp quyền sử dụng đất theo quy định.

    • + Tuyên bố vô hiệu 01 phần hợp đồng tặng cho QSDĐ do Chủ tịch UBND xã K chứng thực số: 01, quyển số 01 TP/CC-SCT/HĐGD ngày 21/01/2014 giữa ông Lê Thành V1 với ông Lê Hữu T đối với phần đất 8.387,5 m² nêu trên.

    • - Chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Ánh N1.

    • + Ghi nhận sự thoả thuận giữa các đương sự: Bà Lê Ánh N1 được hưởng thừa kế đối với phần đất có diện tích 3.961,6 m² – (Trong đó: 1.370,7 m² (đất ở + cây lâu năm) – tại thửa số 3, 6, 7, 9 theo bản vẽ và 2.590,9 m² (đất trồng lúa) – tại thửa số 1 theo bản vẽ) - đất tọa lạc tại ấp D, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau – được trích đo từ một phần thửa đất số 41, 64, 452 – tờ bản đồ số 9 – bản đồ địa chính chỉnh lý năm 2023 (tương ứng với một phần thửa đất số 96, 112, 118 và thửa 120 – tờ bản đồ số 7 (bản đồ 299) – theo GCNQSD số: A 201064 của UBND huyện T, tỉnh Cà Mau cấp ngày 10/7/1991.

    • Lê Ánh N1 được thực hiện quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất đối với phần đất nêu trên và có quyền, nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để kê khai, đăng ký xin cấp quyền sử dụng đất theo quy định.

    • + Tuyên bố vô hiệu 01 phần hợp đồng tặng cho QSDĐ do Chủ tịch UBND xã K chứng thực số: 01, quyển số 01 TP/CC-SCT/HĐGD ngày 21/01/2014 giữa ông Lê Thành V1 với ông Lê Hữu T đối với phần đất 3.961,6 m² nêu trên.

    • - Chấp nhận 01 phần yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng N4.

    • + Buộc bà Nguyễn Kim Đ phải có trách nhiệm trả số tiền 458.954.554 đồng (Trong đó: Nợ gốc 443.000.000 đồng, nợ lãi 15.954.554 đồng) cho Ngân hàng N4 đến hết ngày 20/3/2024 và kể từ ngày 21/3/2024 bà Nguyễn Kim Đ còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi đối với số tiền nợ chưa thanh toán theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại các hợp đồng tín dụng và các giấy nhận nợ cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ.

    • + Tuyên bố vô hiệu 01 phần hợp đồng thế chấp QSDĐ và tài sản gắn liền với đất số: A4 0220/HĐTC ký kết giữa Ngân hàng với ông Lê Hữu T được chứng thực ngày 27/01/2014, đối với:

      • Phần đất ông Lê Hữu D được chia thừa kế là 8.387,5 m² – thuộc một phần thửa đất số 96, 112, 118 và thửa 120 – tờ bản đồ số 7 (bản đồ 299) – theo GCNQSD số: A 201064 của UBND huyện T, tỉnh Cà Mau cấp ngày 10/7/1991.

      • Phần đất bà Lê Ánh N1 được chia thừa kế là 3.961,6 m² – thuộc một phần thửa đất số 96, 112, 118 và thửa 120 – tờ bản đồ số 7 (bản đồ 299) – theo GCNQSD số: A 201064 của UBND huyện T, tỉnh Cà Mau cấp ngày 10/7/1991.

      • Phần đất 1.339,7 m² gia đình ông Lê Hoàng D1 đang quản lý sử dụng thuộc QSDĐ theo GCNQSD số: A 201064 của UBND huyện T, tỉnh Cà Mau cấp ngày 10/7/1991.

      • Phần đất 422,7 m² gia đình bà Trần Kim N2 đang quản lý sử dụng thuộc QSDĐ theo GCNQSD số: A 201064 của UBND huyện T, tỉnh Cà Mau cấp ngày 10/7/1991.

    • + Tiếp tục duy trì tài sản thế chấp là QSDĐ đối với phần đất 32.410 m² (trừ các phần đất bị tuyên bố vô hiệu nêu trên) tại các thửa đất 96, 120, 108, 112 – tờ bản đồ số 07 theo GCNQSD số: A 201064 của UBND huyện T, tỉnh Cà Mau cấp ngày 10/7/1991 (đã được chỉnh lý sang tên cho ông Lê Hữu T ngày 25/01/2014 theo hợp hồ sơ số: 13 ngày 25/01/2014) được thế chấp theo hợp đồng thế chấp QSDĐ và tài sản gắn liền với đất số: A4 0220/HĐTC ký kết giữa Ngân hàng với ông Lê Hữu T được chứng thực ngày 27/01/2014.

    • * Trường hợp bà Nguyễn Kim Đ không trả được nợ gốc và (hoặc) lãi đúng hạn, thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp được duy trì nêu trên để thu hồi nợ.

    • * Trường hợp tài sản thế chấp được xử lý theo quy định của pháp luật để thihành án cho Ngân hàng thì buộc ông Lê Hữu T, bà Trần Kim Đ2, chị Lê Thị Huyền T1, chị Lê Thị Thế T2, anh Nguyễn Văn T3, anh Lê Chí Đ1 (do ông ông T và bà Đ2 là người đại diện) giao tài sản để thi hành án theo quy định.

    • (Diện tích tứ cận và vị trí các phần đất được nêu trong phần quyết định này có bản trích đo hiện trạng ngày 23/7/2024 của Công ty TNHH - (kèm theo)).

  2. Chi phí tố tụng:

    Nguyên đơn ông Lê Hữu D tự chịu toàn bộ chi phí tố tụng số tiền 34.523.880 đồng (Đã nộp và thực hiện xong).

  3. Án phí dân sự sơ thẩm:
    • Buộc ông Lê Hữu D phải chịu án phí có giá ngạch 33.159.060 đồng, ông Lê Hữu D đã dự nộp tiền tạm ứng án phí trước 300.000 đồng theo biên lai thu số: 0006583 ngày 18/4/2023 và 300.000 đồng theo biên lai thu số: 004627 ngày 05/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau được chuyển sang thu đối trừ, số tiền án phí ông Lê Hữu D phải nộp tiếp là 32.559.060 đồng.

    • Lê Ánh N1 thuộc trường hợp được miễn dự nộp tạm ứng án phí và án phí.

    • Buộc ông Lê Hữu T phải chịu án phí không có giá ngạch 300.000 đồng.

    • Buộc bà Nguyễn Kim Đ phải chịu án phí có giá ngạch là 22.358.182 đồng.

    • Buộc Ngân hàng N4 phải chịu án phí không có giá ngạch là 300.000 đồng, Ngân hàng N4 đã dự nộp tiền tạm ứng án phí trước với số tiền 11.179.091 đồng theo biên lai thu số: 0004770 ngày 29/3/204 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau được chuyển sang thu đối trừ, số tiền tạm ứng án phí đã dự nộp trước Ngân hàng N4 được hoàn lại là 10.879.091 đồng.

  4. Quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với các đương sự vắng mặt tại phiên toà quyền kháng cáo bản án này trong hạn luật định 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

- TAND tỉnh Cà Mau (gửi mail);

- VKSND huyện Trần Văn Thời;

- Chi cục THADS huyện Trần Văn Thời;

- Đương sự, NTGTT Khác;

- Chi nhánh VPĐKĐĐ huyện Trần Văn Thời;

- UBND xã Khánh Bình Đông;

- Lưu HSVA, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trương Huỳnh Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 215/2024/DS-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp về thừa kế tài sản là quyền sử dụng đất, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất.

  • Số bản án: 215/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản là quyền sử dụng đất, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất.
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện chia thừa kế
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger