Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 215/2023/DS-ST
Ngày: 25-12-2023.
V/v tranh chấp Hợp đồng dịch vụ.

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Đoàn Thanh Trúc

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Đinh Kim Hoàng.
  2. Bà Võ Thanh Nga.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phan Quế Anh - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 và ngày 25 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 91/2020/TLST - DS ngày 12 tháng 08 năm 2020 về việc tranh chấp “Hợp đồng dịch vụ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 837/2023/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hoàng Y, sinh năm 1988.
Địa chỉ: B T, Phường H, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp: Ông Đặng Tấn P, sinh năm 1978 “có mặt”.
Địa chỉ: H T, phường T, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy ủy quyền ngày 07/08/2023).

Bị đơn: Công ty TNHH B1.
Địa chỉ: 1 Q, phường T, quận H, Thành phố Đà Nẵng.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trương V, sinh năm 1979 “vắng mặt”.
HKTT: 34/2 khu phố G, phường T, Thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Công ty TNHH B1 - Chi nhánh M.
    Địa chỉ: Số A Đường A, Phường D, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.
    Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Minh T, sinh năm 1978 “vắng mặt”.

Địa chỉ: A Lô Q, B, Phường F, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.

  1. Ông Võ Mạnh C “vắng mặt”.
    Địa chỉ: 1 Đường T, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày: Ngày 10/09/2019, bà Nguyễn Thị Hoàng YCông ty TNHH B1 - Chi nhánh M ký kết Hợp đồng kinh tế số ....../2019/HĐKT để ghi nhận sự thỏa thuận về điều kiện phát sinh việc mua bán các sản phẩm cháo dinh dưỡng mang nhãn hiệu “For you”. Theo đó, Công ty TNHH B1 - Chi nhánh M sẽ tự chịu mọi chi phí đầu tư, xây dựng, kinh doanh cửa hàng tại địa điểm do các bên thỏa thuận và nếu sau 06 tháng kể từ ngày khai trương, lợi nhuận cửa hàng tại địa điểm do các bên thỏa thuận đạt được 30.000.000 đồng/tháng thì bà Nguyễn Thị Hoàng Y sẽ nhận chuyển nhượng cửa hàng và phải mua các sản phẩm cháo của Công ty TNHH B1 - Chi nhánh M theo giá thỏa thuận để tiếp tục kinh doanh. Tuy nhiên, bà Nguyễn Thị Hoàng Y phải ứng trước cho Công ty TNHH B1 - Chi nhánh M số tiền 500.000.000 đồng để thực hiện công việc đầu tư ban đầu. Số tiền ứng trước này được xem như tiền nhận chuyển nhượng cửa hàng do Công ty TNHH B1 - Chi nhánh M đã đầu tư, xây dựng nếu đáp ứng được mức lợi nhuận 30.000.000 đồng như dự kiến, ngược lại nếu không đạt được thì Công ty TNHH B1 - Chi nhánh M sẽ hoàn trả lại số tiền này cho bà Nguyễn Thị Hoàng Y.

Theo nội dung thỏa thuận tại Hợp đồng kinh tế đã ký kết, trước khi điều kiện cửa hàng đạt được lợi nhuận 30.000.000 đồng/tháng thì tất cả chi phí đầu tư, xây dựng, kinh doanh cửa hàng sẽ do Công ty TNHH B1 - Chi nhánh M chịu. Tuy nhiên, trên tinh thần thiện chí và hỗ trợ, bà Nguyễn Thị Hoàng Y đã tự ý ký kết Hợp đồng thuê mặt bằng ngày 19/08/2019 với ông Võ Mạnh C để Công ty TNHH B1 - Chi nhánh M đăng ký làm địa điểm kinh doanh. Đồng thời, bà Nguyễn Thị Hoàng Y tự ứng trước số tiền 126.000.000 đồng để đặt cọc thay cho Công ty TNHH B1 - Chi nhánh M cũng như thanh toán các chi phí xin giấy phép hoạt động khác tại cửa hàng. Tất cả những việc làm này là do bà Nguyễn Thị Hoàng Y tự ý thực hiện, không được sự thỏa thuận dưới bất kỳ hình thức nào giữa bà và Công ty TNHH B1 - Chi nhánh M. Sau đó, Công ty TNHH B1 - Chi nhánh M lại sử dụng thời gian hơn 06 tháng chỉ để trang trí một mặt bằng có diện tích 100m² chỉ cho mục đích kinh doanh sản phẩm cháo. Sau khi cửa hàng kinh doanh được vài ngày thì Công ty TNHH B1 - Chi nhánh M lại vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền thuê mặt bằng dẫn đến việc mặt bằng bị thu hồi, cửa hàng không thể tiếp tục kinh doanh. Do đó, bà Nguyễn Thị Hoàng Y bị mất tiền đặt cọc thuê mặt bằng đã thanh toán thay cho Công ty TNHH B1 - Chi nhánh M là 126.000.000 đồng. Do nhận thấy việc đáp ứng điều kiện về lợi nhuận của cửa hàng theo thỏa thuận không có khả năng thực hiện nên vào ngày 20/05/2020, bà Nguyễn Thị Hoàng Y đã có văn bản thông báo về việc sẽ chấm dứt hợp đồng đã ký kết và yêu cầu Công ty TNHH B1 - Chi nhánh M hoàn trả các khoản tiền đã ứng trước. Tuy nhiên, Công ty TNHH B1 - Chi nhánh M cố tình viện dẫn nhiều lý do để không thực hiện. Do đó, bà Nguyễn Thị Hoàng Y khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Công ty TNHH B1 phải có trách nhiệm trả lại số tiền 635.950.000 đồng, bao gồm: số tiền đã đưa trước cho bị đơn là 500.000.000 đồng; tiền đặt cọc thuê địa điểm kinh doanh mà nguyên đơn đã thanh toán dùm cho bị đơn là 126.000.000 đồng; tiền phí dịch vụ đăng ký Giấy phép địa điểm kinh doanh mà nguyên đơn đã thanh toán dùm cho bị đơn là

2.500.000 đồng; tiền phí dịch vụ đăng ký Giấy phép an toàn vệ sinh thực phẩm mà nguyên đơn đã thanh toán dùm cho bị đơn là 7.450.000 đồng và tiền lãi do chậm trả đối với số tiền 635.950.000 đồng với mức lãi suất là 10% từ ngày 20/05/2020 cho đến khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên không có lời khai tại Tòa án.

Tại phiên tòa:

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Đặng Tấn P xác định yêu cầu khởi kiện như sau:

  • Yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền đã đưa trước là 500.000.000 đồng và số tiền đã ứng trước để đặt cọc thuê địa điểm kinh doanh là 126.000.000 đồng.
  • Đề nghị được rút lại yêu cầu về việc buộc bị đơn có trách nhiệm trả lại tiền phí dịch vụ đăng ký Giấy phép địa điểm kinh doanh là 2.500.000 đồng và tiền phí dịch vụ đăng ký Giấy phép an toàn vệ sinh thực phẩm là 7.450.000 đồng.
  • Không yêu cầu bị đơn phải có trách nhiệm thanh toán tiền lãi do chậm trả đối với số tiền 635.950.000 đồng với mức lãi suất là 10%/năm từ ngày 20/05/2020 cho đến ngày xét xử vụ án mà thay đổi thành yêu cầu khởi kiện như sau: Buộc bị đơn phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng đã ký kết với số tiền là 180.000.000 đồng.

Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt không rõ lý do, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

  • Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi xét xử thì Thẩm phán đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán theo quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ việc cấp, tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự đúng theo quy định tại các Điều 170, Điều 171 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; thực hiện đúng về thời hạn đưa vụ án ra xét xử theo điểm a khoản 1 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Tòa án thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự, tiến hành theo đúng quy định tại Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự. Việc gửi hồ sơ cho Viện Kiểm sát nghiên cứu theo đúng quy định tại Điều 220; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã tuân thủ nguyên tắc xét xử về phiên tòa sơ thẩm được quy định tại Điều 222, Điều 223 Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Về nội dung: Công ty TNHH B1 – Chi nhánh M và bà Nguyễn Thị Hoàng Y đã cùng ký kết Hợp đồng thực hiện việc mua bán các sản phẩm cháo dinh dưỡng mang nhãn hiệu “For you” theo quy định Điều 385 và là trường hợp Hợp đồng dịch vụ theo Điều 513 Bộ luật dân sự năm 2015.

Theo giao kết Hợp đồng, Công ty B1 là bên cung ứng dịch vụ, theo lời khai của Bị đơn bà Y là bên sử dụng dịch vụ thì Công ty B1 đã vi phạm Hợp đồng đã ký kết. Công ty B1, cũng như người đại diện theo pháp luật của Công ty không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn mặc dù đã được Tòa án tống đạt triệu tập

hợp lệ. Do đó, bà Y có quyền yêu cầu được áp dụng các điều khoản theo Hợp đồng đã ký đối với trường hợp Công ty B1 vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Điều 516 và Điều 517 Bộ luật dân sự năm 2015.

Theo khoản 1 Điều 6: QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA BÊN A của Hợp đồng kinh tế không số/2019/HĐKT ngày 10/9/2019 giữa Công ty TNHH B1 – Chi nhánh M và bà Nguyễn Thị Hoàng Y quy định như sau:

“...Sau 06 tháng (sáu tháng) kể từ ngày khai trương địa điểm kinh doanh, nếu lợi nhuận của cửa hàng không đạt được đến 30 (ba mươi) triệu đồng/tháng, trong trường hợp bên B yêu cầu Bên A phải hoàn trả các chi phí sau đây cho bên B:

  • Toàn bộ số tiền đầu tư 500 (năm trăm) triệu đồng;
  • Một tháng tiền nhà 42.000.000 đồng (Bốn mươi hai triệu đồng), đã được bên B thanh toán cho chủ nhà vào tháng 9/2019;
  • Phí dịch vụ đăng ký Giấy phép địa điểm kinh doanh là 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng)
  • Phí dịch vụ đăng ký Giấy phép An toàn vệ sinh thực phẩm là 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng)”

Theo thỏa thuận trên và các chứng cứ trong hồ sơ, Nguyên đơn yêu cầu Bị đơn phải có nghĩa vụ thanh toán cho Nguyên đơn các khoản sau:

Đối với số tiền đầu tư 500.000.000 đồng: Nguyên đơn có cung cấp chứng cứ đã thanh toán cho bị đơn bằng phiếu thu số tiền 500.000.000 đồng. Nên có cơ sở chấp nhận việc yêu cầu bị đơn trả lại cho nguyên đơn số tiền 500.000.000 đồng;

Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền cọc thuê cửa hàng mà nguyên đơn đã thanh toán dùm cho bị đơn 126.000.000 đồng. Việc nguyên đơn tự nguyện thanh toán giùm cho bị đơn không có quy định trong hợp đồng, không có phụ lục Hợp đồng. Không có cơ sở để chấp nhận.

Tại phiên tòa ngày 22/12/2023, nguyên đơn rút yêu cầu thanh toán Phí dịch vụ đăng ký Giấy phép địa điểm kinh doanh là 2.500.000 đồng và P1 dịch vụ đăng ký Giấy phép An toàn vệ sinh thực phẩm là 7.450.000 đồng. Xét đây là yêu cầu tự nguyện của nguyên đơn theo quy định Điều 70,71 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 nên được chấp nhận.

Tại phiên tòa, nguyên đơn thay đổi phần yêu cầu bị đơn còn phải có trách nhiệm thanh toán tiền lãi thành thanh toán tiền bồi thường hợp đồng đối với số tiền 626.000.000 đồng với lãi suất là 10% từ ngày 20/5/2020 cho đến khi bản án có hiệu lực pháp luật. Cụ thể số tiền yêu cầu bồi thường là 180.000.000 đồng (626.000.000 đồng x 10% x 03 năm).

Xét yêu cầu bồi thường của nguyên đơn vượt quá yêu cầu khởi kiện, nên không được xem xét.

Nguyên đơn không yêu cầu tính lãi như yêu cầu khởi kiện ban đầu nên đình chỉ phần yêu cầu tính lãi của Nguyên đơn.

- Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

+ Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn là Công ty TNHH B1 có nghĩa vụ phải trả số tiền 500.000.000 đồng cho bà Nguyễn Thị Hoàng Y.

+ Không chấp nhận phần yêu cầu đối với yêu cầu bị đơn trả tiền cọc thuê cửa hàng mà nguyên đơn đã thanh toán dùm cho bị đơn 126.000.000 đồng.

+ Đình chỉ phần yêu cầu thanh toán Phí dịch vụ đăng ký Giấy phép địa điểm kinh doanh là 2.500.000 đồng và P1 dịch vụ đăng ký Giấy phép An toàn vệ sinh thực phẩm là 7.450.000 đồng.

+ Đình chỉ phần yêu cầu tính lãi của nguyên đơn.

Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm đối với yêu cầu không được chấp nhận. Bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm đối với yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận theo quy định của pháp luật theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

1.1. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại số tiền còn thiếu và bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng được ký kết giữa bà Nguyễn Thị Hoàng YCông ty TNHH B1 – Chi nhánh M. Căn cứ Công văn số 2372/ĐKKD-T6 ngày 09/05/2022 và Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố H cung cấp thì Công ty TNHH B1 – Chi nhánh M có địa chỉ đăng ký kinh doanh tại số A Đường A, Phường D, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh và hoạt động theo ủy quyền của Công ty TNHH B1, đến nay chưa đăng ký chấm dứt hoạt động. Căn cứ Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty TNHH Một thành viên do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Đ cung cấp thì Công ty TNHH B1 đến nay vẫn chưa chấm dứt hoạt động hay giải thể.

Tại điểm b khoản 1 Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định như sau: “Nếu tranh chấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh T2 thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi tổ chức có trụ sở hoặc nơi tổ chức có chi nhánh giải quyết”. Trong vụ án này, nguyên đơn lựa chọn Tòa án nơi có chi nhánh tại Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2016.

1.2. Về quá trình tố tụng trong việc giải quyết vụ án:

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện được việc tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đến phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2016.

[2] Về nội dung tranh chấp:

2.1. Xét về việc giao kết và thực hiện Hợp đồng kinh tế số ..../2019/HĐKT được ký kết giữa bà Nguyễn Thị Hoàng YCông ty TNHH B1- Chi nhánh M:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ phù hợp với lời khai của nguyên đơn thì có cơ sở khẳng định: Ngày 10/09/2019, bà Nguyễn Thị Hoàng YCông ty TNHH B1 - Chi nhánh M ký kết Hợp đồng kinh tế số ..../2019/HĐKT để ghi nhận sự thỏa thuận về điều kiện phát sinh việc sử dụng và mua bán các sản phẩm cháo dinh dưỡng thương hiệu For you. Theo thỏa thuận giữa hai bên thì tất cả mọi đầu tư ban đầu đều do Công ty TNHH B1 - Chi nhánh M chi trả hết nên bà Nguyễn Thị Hoàng Y phải có trách nhiệm thanh toán số tiền 500.000.000 đồng thành 02 đợt: Đợt 1: 60% giá trị ngay khi ký hợp đồng. Đợt 2: Thanh toán 40% giá trị còn lại ngay sau khi nghiệm thu. Trong 03 tháng đầu kể từ ngày khai trương địa điểm kinh doanh, Công ty TNHH B1 - Chi nhánh M có nghĩa vụ tự điều hành và chi trả tất cả các chi phí liên quan đến cửa hàng. Sau 06 tháng kể từ ngày khai trương địa điểm kinh doanh, nếu lợi nhuận của cửa hàng không đạt được đến 30.000.000 đồng/tháng, thì Công ty TNHH B1 - Chi nhánh M phải hoàn trả các chi phí sau cho bà Nguyễn Thị Hoàng Y: Toàn bộ số tiền đã đưa trước là 500.000.000 đồng; một tháng tiền nhà 42.000.000 đồng đã được bà Nguyễn Thị Hoàng Y thanh toán cho chủ nhà vào tháng 09 năm 2019; phí dịch vụ đăng ký Giấy phép địa điểm kinh doanh là 2.500.000 đồng, phí dịch vụ đăng ký Giấy phép an toàn vệ sinh thực phẩm là 15.000.000 đồng. Sau 06 tháng kể từ ngày khai trương địa điểm kinh doanh, nếu lợi nhuận của cửa hàng đạt được đến 30.000.000 đồng/tháng, thì Công ty TNHH B1 - Chi nhánh M phải sang nhượng chủ quyền cửa hàng lại cho bà Nguyễn Thị Hoàng Y với chi phí là không đồng.

Căn cứ Công văn số 6225/UBND-TCKH ngày 01/12/2023 của Ủy ban nhân dân quận G, Thành phố Hồ Chí Minh thì bà Nguyễn Thị Hoàng Y không thực hiện đăng ký kinh doanh và cũng không phải là chủ hộ kinh doanh cá thể. Như vậy, tại thời điểm xác lập giao dịch dân sự, bà Nguyễn Thị Hoàng Y là chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, Công ty TNHH B1 - Chi nhánh M là pháp nhân có đăng ký kinh doanh tham gia giao dịch một cách hoàn toàn tự nguyện, mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Đây là giao dịch dân sự được xác định là hợp pháp nên đã làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự của cả hai bên.

2.2. Xét yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hoàng Y về việc buộc Công ty TNHH B1 có trách nhiệm trả lại số tiền 500.000.000 đồng:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì có cơ sở khẳng định đây là hợp đồng kinh tế có điều kiện, theo đó điều kiện mà hai bên đương sự đã thỏa thuận như sau: Sau 06 tháng kể từ ngày khai trương địa điểm kinh doanh, nếu lợi nhuận của cửa hàng không đạt đến 30.000.000 đồng/tháng thì bà Nguyễn Thị Hoàng Y được quyền yêu cầu Công ty TNHH B1 - Chi nhánh M hoàn trả các chi phí bao gồm toàn bộ số tiền đã đưa trước là 500.000.000 đồng; một tháng tiền nhà 42.000.000 đồng; phí dịch vụ đăng ký Giấy phép địa điểm kinh doanh là 2.500.000 đồng, phí dịch vụ đăng ký Giấy phép an toàn vệ sinh thực phẩm là 15.000.000 đồng. Trường hợp sau 06 tháng kể từ ngày khai trương địa điểm kinh doanh, nếu lợi nhuận của cửa hàng đạt được đến 30.000.000 đồng/tháng, thì Công ty TNHH B1 - Chi nhánh M phải sang nhượng chủ quyền cửa hàng lại cho bà Nguyễn Thị Hoàng Y với chi phí là không đồng. Ngoài ra, để đảm bảo cho việc chuẩn bị cơ sở vật chất nhằm thực hiện hợp đồng thì bà Nguyễn Thị Hoàng Y phải có trách nhiệm đưa trước số tiền 500.000.000 đồng.

Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn cho rằng việc Công ty TNHH B1 - Chi nhánh M vi phạm nghĩa vụ trả tiền thuê mặt bằng nên ngày 20/05/2020 bà Nguyễn Thị Hoàng Y đã có văn bản thông báo về việc sẽ chấm dứt hợp đồng đã ký kết và yêu cầu Công ty TNHH B1 - Chi nhánh M hoàn trả các khoản tiền đã đưa trước do nhận thấy việc đáp ứng điều kiện về lợi nhuận của cửa hàng theo thỏa thuận không có khả năng thực hiện. Tuy nhiên, tại Công văn số 6225/UBND-TCKH ngày 01/12/2023 của Ủy ban nhân dân quận G, Thành phố Hồ Chí Minh có nội dung thể hiện: “Qua ghi nhận dữ liệu từ 01/01/2019 đến nay, tại địa chỉ F P, Khu dân cư C, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh không ghi nhận có hộ kinh doanh thành lập mới và không có mã số thuế cá nhân đăng ký mới do bà Nguyễn Thị Hoàng Y là đại diện”. Điều này cho thấy thực tế cửa hàng kinh doanh tiêu thụ sản phẩm cháo dinh dưỡng thương hiệu For you tại địa chỉ F P, Khu dân cư C, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh không hoạt động và cũng không phải sinh lợi nhuận. Như vậy, có cơ sở khẳng định điều kiện để phát sinh tính hiệu lực của hợp đồng giữa hai bên đương sự là không tồn tại.

Tại khoản 3 Điều 9 của Hợp đồng kinh tế được ký kết giữa bà Nguyễn Thị Hoàng YCông ty TNHH B1 - Chi nhánh M ghi nhận nội dung như sau “Trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng, bên nào muốn chấm dứt phải bồi thường thiệt hại cho bên kia nếu có”. Quá trình giải quyết vụ án, Công ty TNHH B1 - Chi nhánh M không đến Tòa án, không nộp bất kỳ tài liệu, chứng cứ nào, không cung cấp lời khai và cũng không trình bày ý kiến, yêu cầu cụ thể của mình nên được xem như là tự mình từ bỏ việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Tại Phiếu thu có dấu mộc của Công ty TNHH B1 - Chi nhánh M không ghi ngày tháng chỉ ghi năm 2019 do nguyên đơn cung cấp có nội dung thể hiện: Bà Nguyễn Thị Hoàng Y đã thanh toán 100% chi phí đầu tư cửa hàng C1 với số tiền là 500.000.000 đồng.

Quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cung cấp bản chính Biên bản làm việc đề ngày 02/06/2020 giữa ông Nguyễn Hoài B là người đại diện Công ty T và ông Trương V với nội dung như sau: Theo Công văn đề xuất của đại diện bà Y ngày 20/05/2020 gửi đến đại diện Công ty TNHH B1, ông Trương V có các ý kiến không nhất trí bồi làm việc như sau: 1. Đồng ý hoàn trả cho bà Y số tiền 300.000.000 đồng trong thời hạn 09 tháng kể từ ngày các bên ký biên bản thỏa thuận đồng ý với mức hoàn trả trên. 2. Không đồng ý đối với các chi phí còn lại theo yêu cầu bà Y”.

Về vấn đề này, Hội đồng xét xử xét thấy: Tại Biên bản làm việc nêu trên được xác lập vào ngày 02/06/2020 với hai bên chủ thể ký kết là ông Nguyễn Hoài B và ông Trương V với tư cách là đại diện Công ty TNHH B1. Tuy nhiên, tại biên bản này chỉ có chữ ký của ông Trương V mà không có bất kỳ dấu mộc gì của Công ty TNHH B1. Ngoài ra, biên bản được lập tại Văn phòng Công ty T do ông Đỗ Thanh T1 và ông Nguyễn Hoài B là đại diện nhưng cũng không có dấu mộc và xác nhận tại nơi lập biên bản và cũng không có chữ ký của ông Đỗ Thanh T1. Quá trình giải quyết vụ án, ông Trương V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do. Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn không có ý kiến gì đối với tài liệu nêu trên và cũng không yêu cầu Tòa án giám định chữ ký của ông Trương V. Do đó, Biên bản làm việc ngày 02/06/2020 do nguyên đơn cung cấp không đảm bảo

tính hợp pháp của chứng cứ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nên không có cơ sở để Hội đồng xét xử xem xét.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì từ sau khi chấm dứt hợp đồng cho đến nay Công ty TNHH B1 - Chi nhánh M chưa thực hiện việc trả lại số tiền 500.000.000 đồng cho bà Nguyễn Thị Hoàng Y. Do đó, yêu cầu khởi kiện này của bà Nguyễn Thị Hoàng Y là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

2.3. Xét yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hoàng Y về việc buộc Công ty TNHH B1 có trách nhiệm trả lại số tiền đã đặt cọc thuê cửa hàng là 126.000.000 đồng:

Tại Điều 2 của Hợp đồng kinh tế số ..../2019/HĐKT ngày 10/09/2019 được ký kết giữa bà Nguyễn Thị Hoàng YCông ty TNHH B1 - Chi nhánh M có nội dung thể hiện: “Địa điểm kinh doanh của bà Nguyễn Thị Hoàng Y cung cấp phải được Công ty TNHH B1 - Chi nhánh M thỏa thuận và đồng ý. Công ty TNHH B1 - Chi nhánh M đầu tư trang thiết bị, vật chất ban đầu để phục vụ cho việc kinh doanh”.

Căn cứ Hợp đồng thuê mặt bằng được ký kết giữa ông Võ Mạnh C và bà Nguyễn Thị Hoàng Y vào ngày 19/08/2019 với nội dung thể hiện: Bà Nguyễn Thị Hoàng Y thuê mặt bằng tầng trệt của căn nhà địa chỉ F P, Khu dân cư C, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh với mục đích thuê là kinh doanh thực phẩm dinh dưỡng kết hợp khu vui chơi trẻ em. Thời gian thuê là từ ngày 01 tháng 09 năm 2019 đến hết ngày 31/10/2024.

Như vậy, có cơ sở khẳng định việc bà Nguyễn Thị Hoàng Y ký hợp đồng thuê mặt bằng tầng trệt của căn nhà địa chỉ F P, Khu dân cư C, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 19/08/2019 là trước khi ký kết hợp đồng với Công ty TNHH B1 - Chi nhánh M và với mục đích kết hợp khu vui chơi trẻ em chứ không phải chỉ nhằm mục đích kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm cháo dinh dưỡng thương hiệu For You. Hơn nữa, giữa hai bên đương sự không có bất kỳ sự thỏa thuận nào bằng văn bản về việc Công ty TNHH B1 - Chi nhánh miền N đồng ý chọn tầng trệt của căn nhà địa chỉ F P, Khu dân cư C, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh là địa điểm kinh doanh cũng như đề nghị bà Nguyễn Thị Hoàng Y ứng trước số tiền đặt cọc thuê mặt bằng.

Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn cho rằng đã thất lạc toàn bộ bản chính giấy tờ nên không cung cấp được cho Hội đồng xét xử bản chính Phiếu thu tiền đặt cọc thuê mặt bằng mà chỉ cung cấp được bản photo Phiếu thu tiền đặt cọc thuê mặt bằng đề ngày 19/08/2020, không có dấu mộc, chỉ có chữ ký của ông Võ Mạnh C. Quá trình giải quyết vụ án, ông Võ Mạnh C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do. Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn không có ý kiến gì đối với tài liệu nêu trên và cũng không yêu cầu Tòa án giám định chữ ký của ông Võ Mạnh C.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Bà Nguyễn Thị Hoàng Y và ông Võ Mạnh C ký kết Hợp đồng thuê mặt bằng vào ngày 19/08/2019, thời gian giao mặt bằng là ngày 20/08/2019. Cho đến ngày 19/08/2020 thì ông Võ Mạnh C mới ký nhận tiền đặt cọc thuê mặt bằng của bà Nguyễn Thị Hoàng Y với số tiền là 126.000.000 đồng. Mặt khác, theo nội dung đơn kiện cũng như sự xác nhận của người đại diện hợp pháp của nguyên đơn tại phiên tòa thì bà

Nguyễn Thị Hoàng Y đã có văn bản thông báo về việc sẽ chấm dứt hợp đồng đã ký kết và yêu cầu Công ty TNHH B1 - Chi nhánh M hoàn trả các khoản tiền đã ứng trước vào ngày 20/05/2020. Đây là điều bất hợp lý bởi lẽ ngày 19/08/2020, ông Võ Mạnh C ký nhận Phiếu thu tiền đặt cọc thuê mặt bằng của bà Nguyễn Thị Hoàng Y là sau ngày giao mặt bằng đến tận một năm, thậm chí là sau ngày bà Nguyễn Thị Hoàng Y có công văn đề nghị Công ty TNHH B1 - Chi nhánh M trả lại tiền đặt cọc thuê mặt bằng đến tận ba tháng.

Như vậy, có cơ sở khẳng định toàn bộ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do nguyên đơn cung cấp mâu thuẫn với nhau và đồng thời cũng mâu thuẫn với chính lời trình bày của người đại diện hợp pháp của nguyên đơn. Ngoài ra, nguyên đơn cũng không cung cấp được Biên bản thanh lý hợp đồng thuê mặt bằng cũng như các tài liệu, giấy tờ khác có liên quan để chứng minh là bà Nguyễn Thị Hoàng Y bị mất tiền đặt cọc thuê mặt bằng như lời trình bày của người đại diện hợp pháp của nguyên đơn.

Tại Công văn số 6225/UBND-TCKH ngày 01/12/2023 của Ủy ban nhân dân quận G, Thành phố Hồ Chí Minh thì “Trong năm 2019, bà Nguyễn Thị Hoàng Y không thực hiện đăng ký hộ kinh doanh tại địa chỉ F P, Khu dân cư C, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Đồng thời, qua ghi nhận dữ liệu từ 01/01/2019 đến nay, tại địa chỉ F P, Khu dân cư C, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh không ghi nhận có hộ kinh doanh thành lập mới và không có mã số thuế cá nhân đăng ký mới do bà Nguyễn Thị Hoàng Y là đại diện”.

Như vậy, Hội đồng xét xử xét thấy bản photo Phiếu thu tiền đặt cọc thuê mặt bằng đề ngày 19/08/2020 do nguyên đơn cung cấp không đảm bảo các thuộc tính của chứng cứ bao gồm: Tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp theo quy định tại Điều 93, Điều 94, Điều 95 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2016 nên không được xác định là chứng cứ. Ngoài ra, thực tế cho thấy bà Nguyễn Thị Hoàng Y không đăng ký kinh doanh và cũng không sử dụng địa điểm thuê mặt bằng tại địa chỉ F P, Khu dân cư C, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh để mở cửa hàng tiêu thụ sản phẩm cháo dinh dưỡng mang thương hiệu For you như hợp đồng đã ký kết giữa hai bên.

Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy không có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn.

2.4. Xét yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hoàng Y về việc buộc Công ty TNHH B1 có trách nhiệm trả lại số tiền phí dịch vụ đăng ký Giấy phép địa điểm kinh doanh là 2.500.000 đồng; tiền phí dịch vụ đăng ký Giấy phép an toàn vệ sinh thực phẩm là 7.450.000 đồng:

Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn đề nghị được rút lại yêu cầu này. Xét, đây là sự tự nguyện và ý chí định đoạt của đương sự, không trái quy định pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện này của bà Nguyễn Thị Hoàng Y.

2.5. Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc không yêu cầu bị đơn phải có trách nhiệm thanh toán tiền lãi do chậm trả đối với số tiền 635.950.000 đồng với mức lãi suất là 10%/năm từ ngày 20/05/2020 cho đến ngày xét xử vụ án mà thay đổi thành yêu cầu bị đơn phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng đã ký kết với số tiền là 180.000.000 đồng.

Tại đơn khởi kiện cũng như quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn xác định yêu cầu khởi kiện là buộc Công ty TNHH B1 phải có trách nhiệm thanh toán tiền lãi do chậm trả đối với số tiền 635.950.000 đồng với mức lãi suất là 10%/năm từ ngày 20/05/2020 cho đến ngày xét xử vụ án. Tuy nhiên, tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Đặng Tấn P đề nghị được thay đổi yêu cầu khởi kiện, cụ thể là buộc Công ty TNHH B1 phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng đã ký kết với số tiền là 180.000.000 đồng.

Tại khoản 1 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự quy định như sau: “Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự nếu việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu”.

Về vấn đề này, Hội đồng xét xử xét thấy: Trong vụ án này, việc yêu cầu thay đổi của đương sự làm thay đổi, phát sinh quan hệ pháp luật mới khác so với quan hệ pháp luật xác định ban đầu. Cụ thể, đó là quan hệ pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của bị đơn đối với nguyên đơn được phát sinh, đồng thời cũng làm thay đổi quan hệ pháp luật được xác định ban đầu là yêu cầu về lãi chậm trả của nguyên đơn. Đây được xác định là vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu được ghi nhận tại đơn khởi kiện ngày 02/07/2020 cũng như trong suốt quá trình giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của người đại diện hợp pháp của nguyên đơn tại phiên tòa nên không có cơ sở để xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn.

Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn xác định không yêu cầu bị đơn thanh toán tiền lãi chậm trả đối với số tiền 635.950.000 đồng với mức lãi suất là 10%/năm từ ngày 20/05/2020 cho đến ngày xét xử vụ án mà chỉ yêu cầu Công ty TNHH B1 phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do Công ty TNHH B1 - Chi nhánh M đã vi phạm hợp đồng đã ký kết với số tiền là 180.000.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải có trách nhiệm thanh toán tiền lãi do chậm trả đối với số tiền 635.950.000 đồng với mức lãi suất là 10%/năm từ ngày 20/05/2020 cho đến ngày xét xử vụ án

2.6. Về phương thức thanh toán:

Tại Điều 280 Bộ luật dân sự năm 2015, có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2017 quy định về thực hiện nghĩa vụ trả tiền như sau: “Nghĩa vụ trả tiền phải được thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm và phương thức đã thỏa thuận”. Xét thấy, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở khẳng định mặc dù đã được bà Nguyễn Thị Hoàng Y đôn đốc, nhắc nhở nhiều lần nhưng Công ty TNHH B1- Chi nhánh miền N vẫn cố tình né tránh thực hiện nghĩa vụ trả nợ là vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Vì vậy, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán số nợ còn thiếu ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh là có căn cứ.

[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm có giá ngạch đối với yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận.

Bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm có giá ngạch trên số tiền phải thanh toán cho nguyên đơn.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Điều 21, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 40, Điều 93, Điều 94, Điều 95, Điều 147, Điều 203, Điều 220, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 244, Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự có hiệu lực thi hành ngày 01/7/2016.

- Căn cứ Điều 116, Điều 117, Điều 118, Điều 119, Điều 220, Điều 280, Điều 357, Điều 429, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2017.

- Căn cứ vào Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015.

- Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Không chấp nhận việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của người đại diện hợp pháp của nguyên đơn tại phiên tòa về việc buộc Công ty TNHH B1 phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại với số tiền là 180.000.000 đồng.
  2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hoàng Y về việc buộc Công ty TNHH B1 phải có trách nhiệm trả lại số tiền đã đặt cọc thuê mặt bằng là 126.000.000 đồng.
  3. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hoàng Y về việc buộc Công ty TNHH B1 phải có trách nhiệm thanh toán tiền lãi do chậm trả đối với số tiền 635.950.000 đồng với mức lãi suất là 10%/năm từ ngày 20/05/2020 cho đến ngày xét xử vụ án.
  4. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hoàng Y về việc buộc Công ty TNHH B1 có trách nhiệm trả lại số tiền phí dịch vụ đăng ký Giấy phép địa điểm kinh doanh là 2.500.000 đồng; tiền phí dịch vụ đăng ký Giấy phép an toàn vệ sinh thực phẩm là 7.450.000 đồng.
  5. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hoàng Y:

    Buộc Công ty TNHH B1 có trách nhiệm trả lại cho bà Nguyễn Thị Hoàng Y số tiền 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng).

    Thanh toán ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

    Kể từ ngày bà Nguyễn Thị Hoàng Y có đơn yêu cầu thi hành án, nếu Công ty TNHH B1 không trả tiền thì hàng tháng còn phải trả thêm tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất quy định tại Điều 357,

Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2017.

  1. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Nguyễn Thị Hoàng Y phải nộp 6.300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 14.873.000 đồng theo biên lai số AA/2019/0035795 ngày 05/08/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Thị Hoàng Y được nhận lại 8.573.000 đồng (tám triệu năm trăm bảy mươi ba nghìn đồng).

    Công ty TNHH B1 phải nộp 24.000.000 đồng (hai mươi bốn triệu đồng).

  2. Về quyền kháng cáo của các đương sự:

    Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật

    Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND Quận 4;
  • - Chi cục THADS Quận 4;
  • - Lưu: Vp, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Đoàn Thanh Trúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 215/2023/DS-ST ngày 25/12/2023 của Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng dịch vụ

  • Số bản án: 215/2023/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng dịch vụ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/12/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyen Thị H Y
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger