Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN G

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số 215/2023/HS-ST

Ngày 22/11/2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Như Trọng.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Chấn;
Bà Nguyễn Thị Hà.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Đạt – Thư ký Toà án nhân dân huyện G, thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ánh Tuyết – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện G xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 220/2023/TLST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa ra xét xử số 223/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2023, đối với bị cáo:

Lê Anh T, sinh năm 1993; đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn A, xã A, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; chỗ ở: Số C, ngõ F V, phường S, quận L, thành phố Hà Nội; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Lê Quang T1, đã chết và con bà Nguyễn Thị T2; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 26/08/2023 đến ngày 29/08/2023 hủy bỏ tạm giữ. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Lê Thị H, sinh năm 1997; nơi cư trú: Thôn A, xã A, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh, có mặt tại phiên tòa.

2. Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1973; nơi cư trú: Tổ C, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình, vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 09 giờ 00 phút ngày 26/08/2023, Tổ công tác Công an xã Y, huyện G, Hà Nội làm nhiệm vụ tại khu vực Dốc Lã, G, Hà Nội phát hiện Lê Anh T có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1973; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ E, thị trấn Q, Q, Thái Bình. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ tang vật, đưa T và Đ về trụ sở làm rõ.

Vật chứng thu giữ của Lê Anh T:

  • - 01 (một) hộp kim loại màu xanh bên trong có 13 gói giấy màu trắng, bên trong các gói giấy đều chứa chất bột màu trắng và 01 (một) gói được quấn ngoài bằng băng dính màu cam, mở ra là lớp giấy màu tím, bên trong có gói giấy màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng;
  • - 01 (một) xe máy mang nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen, xám, BKS: 38H1 – 212.92, số khung: 1710HY137889, số máy: E3T6E203186, xe cũ đã qua sử dụng;
  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu xanh, bên trong có gắn thẻ sim số 0824111495, máy cũ đã qua sử dụng;
  • - 01 (một) điện thoại di động mang nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu vàng, bên trong có sim số 0979191745 máy cũ đã qua sử dụng;
  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, bên trong không lắp thẻ sim, máy cũ, đã qua sử dụng.
  • - 01 (một) túi xách màu đen có ghi chữ Adidas.

Vật chứng thu giữ của Nguyễn Văn Đ:

  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen bên trong gắn thẻ sim 0398862100, máy cũ đã qua sử dụng.
  • - Số tiền 700.000 đồng.

Ngày 27/08/2023, Cơ quan điều tra đã ra lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Anh T tại số C, ngõ F V, phường S, quận L, thành phố Hà Nội nhưng không phát hiện, thu giữ gì liên quan đến vụ án.

Tại Kết luận giám định số 5824/KL-KTHS ngày 03/09/2023 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận: “Chất bột màu trắng trong 13 gói giấy màu trắng và 01 gói giấy màu trắng bọc ngoài bằng giấy màu tím quấn lớp ngoài cùng bằng băng dính màu cam đều là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng 0,732 gam".

Tại cơ quan điều tra, Lê Anh T và đối tượng Nguyễn Văn Đ khai nhận: Khoảng 07 giờ 30 ngày 26/08/2023, khi T đang ở phòng trọ tại số C ngõ F V, S, L, Hà Nội thì có một người đàn ông (sau này T biết tên là Nguyễn Văn Đ) dùng số điện thoại 0398.862.xxx gọi đến số điện thoại 0824.111.xxx của T hỏi mua 700.000 đồng ma túy loại Heroine. T đồng ý và hẹn gặp Đ ở khu vực đối diện cây xăng D, Y, G, Hà Nội để giao dịch mua bán ma túy. Sau đó, T điều khiển xe máy nhãn hiệu Yamaha BKS: 38H1 - 212.92 đi đến khu vực T, H, Hà Nội để mua ma túy về bán kiếm lời. Đến nơi, T đã mua 1.000.000 đồng ma túy loại Heroine của một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ ở trong 01 ngôi nhà có cổng được hàn kín. T đưa tiền qua lỗ nhỏ trên cổng, người đàn ông này cầm tiền và đưa cho T 01 (một) gói giấy màu tím bên trong chứa chất bột màu trắng. T biết đó là ma túy Heroine nên đã cầm và cất vào bên trong túi vải màu đen T đang đeo trước ngực. Mua xong, T điều khiển xe máy đi về phòng trọ và chia số ma túy vừa mua được thành 14 gói, trong đó có 13 gói được bọc bằng giấy màu trắng và 01 gói giấy màu trắng được bọc ngoài bằng một lớp giấy màu tím rồi quấn ngoài bằng băng dính màu cam (gói này T nhằm mục đích bán cho Đ). Sau đó, T cho toàn bộ số ma túy vừa chia ra được vào 01 hộp kim loại màu xanh rồi để vào túi vải màu đen T đang đeo trước ngực và điều khiển xe máy đi đến khu vực D, Y, G, Hà Nội để bán cho Đ. Đến nơi, T thấy Đ đang đứng đợi ở ven đường thì điều khiển xe máy đi lại gần. Khi Đ đang chuẩn bị trả tiền cho T và T đang chuẩn bị lấy ma túy từ trong túi đeo chéo màu đen ra để bán cho Đ thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng. Lúc này, T đã tự nguyện lấy từ trong túi vải màu đen T đang đeo trước ngực ra 01 (một) hộp kim loại màu xanh ra giao nộp cho lực lượng Công an và khai nhận đây là ma túy H1, T mua về để bán cho Đ và các con nghiện khác kiếm lời. Khi mở hộp kim loại màu xanh ra bên trong gồm có 13 (mười ba) gói giấy màu trắng bên trong đều chứa chất bột màu trắng và 01 gói được quấn ngoài bằng băng dính màu cam bên trong có lớp giấy màu tím, bên trong lớp giấy màu tím có gói giấy màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng.

Đối với 01 chiếc xe máy mang nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen, xám, BKS: 38H1 – 212.92 và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu xanh bên trong có gắn thẻ sim số 0824111495 và 01 túi xách màu đen có ghi chữ A, qua điều tra xác định thuộc sở hữu của bị cáo Lê Anh T, có liên quan đến hành vi phạm tội. Do vậy, Cơ quan CSĐT Công an huyện G đã thu giữ để xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen bên trong gắn thẻ sim 0398862100, máy cũ đã qua sử dụng và số tiền 700.000 đồng, qua điều tra xác định thuộc sở hữu của Nguyễn Văn Đ, có liên quan đến hành vi phạm tội. Do vậy, Cơ quan CSĐT Công an huyện G đã thu giữ để xử lý theo quy định pháp luật.

Đối với 01 điện thoại di động mang nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu vàng, bên trong có sim số 0979191745 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, bên trong không lắp thẻ sim, máy cũ, đã qua sử dụng, qua điều tra xác định thuộc sở hữu của chị Lê Thị H, sinh năm 1997; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: A, An Hòa T3, H, Hà Tĩnh (là em gái của bị cáo Lê Anh T), không liên quan đến hành vi phạm tội. Do vậy ngày 25/10/2023, Cơ quan CSĐT – Công an huyện G đã ra quyết định xử lý vật chứng, trao trả các tài sản trên cho chị H.

Đối với đối tượng đã bán ma túy cho Lê Anh T và ngôi nhà mà T mua được ma túy, T khai không biết tên tuổi địa chỉ của đối tượng này và cũng không nhớ vị trí đã mua ma túy, do không xác định được nhân thân nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, xử lý đối tượng này.

Đối với đối tượng Nguyễn Văn Đ là người mua ma túy của T nhưng chưa đưa tiền, chưa nhận được ma túy, qua xét nghiệm âm tính với chất ma túy nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý đối với Nguyễn Văn Đ.

Tại Cơ quan điều tra, Lê Anh T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của Nguyễn Văn Đ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản Cáo trạng số 222/CT-VKSGL ngày 31 tháng 10 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện G truy tố bị cáo Lê Anh T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra và Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét

giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đối với chiếc xe máy mang nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen, xám, BKS: 38H1 – 212.92 có nguồn gốc là do chị H bỏ tiền ra mua nhưng cho bị cáo đứng tên đăng ký xe và sử dụng. Trường hợp chiếc xe máy này bị tịch thu, sung quỹ nhà nước bị cáo nhất trí và không có ý kiến gì khác.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Lê Thị H trình bày: Nguồn gốc chiếc xe máy mang nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen, xám, BKS: 38H1 – 212.92 là do chị bỏ tiền ra mua nhưng cho anh T đứng tên đăng ký xe và sử dụng. Việc anh T sử dụng chiếc xe máy này để đi mua bán ma túy vào ngày 26/08/2023 chị không biết và không liên quan. Trường hợp chiếc xe máy này bị tịch thu, sung quỹ nhà nước chị nhất trí và không có ý kiến gì khác. Chị đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt đến mức thấp nhất cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện G tham gia phiên tòa luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố theo Cáo trạng; sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Lê Anh T từ 28 tháng đến 32 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 26/08/2023 đến ngày 29/08/2023; không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu và tiêu huỷ số ma túy thu giữ của bị cáo; tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 chiếc xe máy mang nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen, xám, BKS: 38H1 – 212.92; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu xanh bên trong có gắn thẻ sim số 0824111495 và 01 túi xách màu đen có ghi chữ Adidas thu giữ của bị cáo Lê Anh T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen bên trong gắn thẻ sim 0398862100, máy cũ đã qua sử dụng và số tiền 700.000 đồng thu giữ của Nguyễn Văn Đ là phương tiện, tiền bạc liên quan đến hành vi phạm tội.

Cơ quan điều tra Công an huyện G đã xử lý các vật chứng khác theo thẩm quyền, nay không có tranh chấp nên không xét.

Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội, bị cáo không có tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng, bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện G và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân huyện G và Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Văn Đ là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng trước đó đã có lời khai đầy đủ tại Cơ quan điều tra. Xét thấy việc vắng mặt của anh Đ không gây trở ngại cho việc xét xử. Theo quy định tại khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh Đ.

[3] Về hành vi phạm tội và tội danh:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người liên quan, lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, có đủ cơ sở kết luận:

Hồi 09 giờ 00 phút ngày 26/08/2023, tại khu vực D, Y, G, Hà Nội, Lê Anh T có hành vi tàng trữ 0,732 gam ma túy loại Heroine để bán trái phép cho đối tượng Nguyễn Văn Đ và các đối tượng khác nhằm thu lời bất chính, thì bị Tổ công tác Công an xã Y, huyện G phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý Nhà nước đối với các chất ma tuý. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân huyện G truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo:

[4.1] Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm chế độ

độc quyền quản lý Nhà nước đối với các chất ma tuý, gây mất trật tự trị an xã hội. Heroine là chất ma tuý rất độc hại, tàn phá và huỷ hoại sức khoẻ con người, là một trong những nguyên nhân chính phát sinh ra các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác trong đời sống xã hội. Trong những năm qua, tội phạm về ma tuý trên địa bàn thành phố Hà Nội diễn biến rất phức tạp, Nhà nước, các cấp chính quyền và Đoàn thể rất quan tâm và nỗ lực tuyên truyền, giáo dục về tác hại của ma tuý, kêu gọi toàn dân tích cực tham gia phòng chống tệ nạn về ma tuý và tội phạm may tuý. Bị cáo nhận thức được đầy đủ về tác hại của ma tuý nhưng vẫn tham gia mua bán trái phép nên cần thiết phải xử lý nghiêm minh để giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và phòng ngừa chung; góp phần đấu tranh phòng chống tệ nạn và các tội phạm về ma tuý trong đời sống xã hội.

[4.2] Về nhân thân bị cáo: Bị cáo là người nghiện ma túy, chưa có tiền án, tiền sự.

[4.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải. Bị cáo có bố đẻ là người có công với cách mạng được tặng thưởng huân huy chương và có bác ruột là liệt sỹ; bị cáo hiện đang phải điều trị bệnh lao phổi. Như vậy, bị cáo có tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[4.4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tổng hợp nhận định ở trên, Hội đồng xét xử nhận thấy cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian bằng việc áp dụng hình phạt tù có thời hạn để đảm bảo việc răn đe, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân huyện G tại phiên toà là phù hợp.

[4.5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên toà thể hiện: Bị cáo là người nghiện ma túy, là lao động tự do, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,

Đối với số ma túy thu giữ của bị cáo là vật nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy.

Đối với 01 chiếc xe máy mang nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen, xám, BKS: 38H1 – 212.92, bị cáo và chị H đều cho rằng nguồn gốc của chiếc xe này là do chị H bỏ tiền ra mua nhưng không có tài liệu, chứng cứ để chứng minh. Trong khi đó bị cáo là người đứng tên đăng ký xe và thường xuyên sử dụng chiếc xe máy này; ngày 26/08/2023, bị cáo đã sử dụng chiếc xe máy này để đi mua bán ma túy trái phép. Do vậy, có cơ sở để xác định chiếc xe máy mang nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen, xám, BKS: 38H1 – 212.92 thuộc sở hữu của bị cáo và là phương tiện hỗ trợ bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

Tại phiên tòa, bị cáo và chị Lê Thị H đều nhất trí và không có ý kiến gì khác nếu chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen, xám, BKS: 38H1 – 212.92 bị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu xanh bên trong có gắn thẻ sim số 0824111495 và 01 túi xách màu đen có ghi chữ Adidas thu giữ của bị cáo Lê Anh T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen bên trong gắn thẻ sim 0398862100, máy cũ đã qua sử dụng và số tiền 700.000 đồng thu giữ của Nguyễn Văn Đ là phương tiện, tiền bạc liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

Cơ quan điều tra Công an huyện G đã xử lý các vật chứng khác theo thẩm quyền, nay không có tranh chấp nên không xét.

[6] Về án phí: Bị cáo phạm tội phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[8] Về các nội dung khác:

Đối với đối tượng bán ma túy cho Lê Anh T, do không xác định được nhân thân, Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra xác minh, xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với Nguyễn Văn Đ do chưa mua được ma tuý của T, qua xét nghiệm âm tính với các chất ma túy, Cơ quan điều tra không đặt vấn đề xử lý đối với Nguyễn Văn Đ nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Anh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt:
    1. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Lê Anh T 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 26/08/2023 đến ngày 29/08/2023.
    2. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
    1. Tịch thu, tiêu huỷ: Ma túy loại Heroine, khối lượng 0,679 gam (đã trừ trích mẫu để giám định 0,053 gam) thu giữ của bị cáo Lê Anh T, đựng trong 01 phong bì niêm phong, bên ngoài có chữ ký của Lê Anh T, cán bộ Công an xã Y và Giám định viên, do Phòng PC09 - Công an thành phố H hoàn lại sau giám định;
    2. Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 (Một) chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, màu đen xám, mang BKS: 38H1 – 21292, số khung: 1710HY137889, số máy: E3T6E203186, xe cũ đã qua sử dụng; 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu xanh, bên trong lắp sim liên lạc, máy cũ đã qua sử dụng và 01 (Một) chiếc túi xách màu đen có ghi chữ Adidas, đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Lê Anh T;
    3. Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 (Một) chiếc điện thoại di động N màu đen, bên trong lắp sim liên lạc, máy cũ đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Văn Đ;

      (Tình trạng vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra Công an huyện G và Chi cục Thi hành án dân sự huyện G ngày 03/11/2023).

    4. Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 700.000 đồng thu giữ của Nguyễn Văn Đ.

      (Số tiền 700.000 đồng hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện G đang quản lý theo Biên lai thu tiền số 0003762 ngày 17/11/2023).

    Cơ quan điều tra Công an huyện G đã xử lý các vật chứng khác theo thẩm quyền, nay không có tranh chấp nên không xét.

  4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án kèm theo.

    Bị cáo Lê Anh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

    Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Lê Thị H có quyền kháng cáo những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn Đ có quyền kháng cáo những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND huyện G;
  • - Công an huyện G;
  • - Chi cục THADS huyện G;
  • - UBND xã A (thay cho Thông báo kết quả xét xử);
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Như Trọng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 215/2023/HS-ST ngày 22/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 215/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: HSST. Lê Anh Tuấn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger