|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 215/2024/HS-ST |
|
|
Ngày: 22-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Thu
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Cao Quốc Hưng
- Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên toà: Ông Trần Ngọc Nam– Kiểm sát viên.
(Điểm cầu trung tâm).
Ngày 22 tháng 5 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 195/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 217/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:
Lý Hồng T, sinh năm: 1989 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số A T, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Tài xế; Con ông Lý Hồng P, sinh năm 1958 và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1958; Bị cáo là con duy nhất; Vợ bị cáo tên: Ong Thị C1, sinh năm 1985; Bị cáo có 01 người con tên Lý Hồng N, sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/10/2023; Bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 00 ngày 23/10/2023, Lý Hồng T đang ở nhà thì có người bạn tên “Minh Đ” (không rõ lai lịch) đi xe G1 đến chơi. Đ rủ T ra xe container
của Đ đánh game thì T đồng ý. T điều khiển xe mô tô biển số 53XD – 0791 chở Đ đi đến chỗ xe của Đ đậu gần khu vực vòng xoay P. Sau khi lên xe thì T và Đ chơi Game trên điện thoại, được một lúc thì T đưa cho Đ 04 card điện thoại Vinaphone (đều mệnh giá 50.000đ) để Đ nạp G chơi chung với T. Sau đó, Đ lấy 02 gói ma túy đá bỏ vào túi áo phía trước T đang mặc và nói “sử dụng giúp thức khuya chơi game được” thì T đồng ý. Một lúc sau thì đến giờ Đ phải đi nên kêu T xuống xe container. T đi xuống rồi điều khiển xe mô tô biển số 53XD – 0791 đi ăn. Đến khoảng 19 giờ 20 phút ngày 23/10/2023, khi T chạy xe đến trước nhà số G N, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh thì Tổ 363 thuộc Công an thành phố T phát hiện Lý Hồng T đang điều khiển xe mô tô biển số 53XD - 0791 có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe kiểm tra. Quá trình kiểm tra, T dùng tay trái vứt 02 gói nylon chứa tinh thể không màu trong túi áo phía trước đang mặc xuống đất thì bị Tổ 363 phát hiện và thu giữ. Tại hiện trường, T khai nhận 02 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy đá, T được bạn cho để sử dụng. Sau đó, Tổ 363 đưa T cùng tang vật và phương tiện về trụ sở Công an phường P, thành phố T và lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lý Hồng T.
Kết luận giám định số 11920/KL-KTHS ngày 31/10/2023 của Phòng K - Công an Thành phố H kết luận: Tinh thể không màu chứa trong 02 gói nylon thu giữ của Lý Hồng T là ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 0,2604 gam.
Xét nghiệm chất ma túy, kết quả T dương tính với ma túy Methylendioxy MDMA và Methamphetamine.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Lý Hồng T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. Lời khai của T phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã rà soát truy tìm đối tượng tên Minh Đ đưa ma túy cho T, tuy nhiên chưa có kết quả.
*Vật chứng và đồ vật thu giữ:
- - 01 gói niêm phong ghi vụ số 2321/23 (theo Kết luận giám định số 11920/KL-KTHS), bên ngoài có chữ ký và tên của giám định viên Bùi Công D; chữ ký và tên của cán bộ Nguyễn Thị Phương M. Bên trong có 01 gói chứa ma túy còn lại sau giám định;
- - 01 Điện thoại di động S A6, màu vàng.
- - 01 xe mô tô biển số 53XD -0791, số khung LWGXCHL 00006311, số máy 1P50FMG-10196291, T khai mua của người đàn ông (không rõ lai lịch) với giá 1.000.000 đồng, chưa làm giấy tờ mua bán. Qua xác minh, xác định: Biển số: 53XD – 0791 được cấp cho xe mô tô Honda C50, số máy: C50E329288, số khung: C50Y5049297, chủ xe tên: Lâm Văn C2 (Sinh năm: 1948, địa chỉ cũ: 2 B, Quận B cũ, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú hiện nay: B L, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh). Ông C2 cho biết xe mô tô
trên mua vào năm 1968 đến năm 1997 thì đăng ký biển số mới là 53XD – 0791 đến năm 2007 thì bán sang tay xe mô tô này cho người đàn ông (không nhớ rõ lai lịch). Đối với số khung: LWGXCHL 00006311, số máy: 1P50FMG - 10196291 được cấp cho xe mô tô hiệu QUICKNEWWAVE, biển số: 52N4-8872, chủ xe tên: Nguyễn Thanh T1 (địa chỉ: 7 Khu phố G, P. A, huyện B, TP .). Hiện nay, ông T1 không cư trú tại địa chỉ trên. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã đăng báo truy tìm chủ xe mô tô trên nhưng chưa tìm được chủ sở hữu hợp pháp.
Cáo trạng số 198/CT-VKSTPTĐ ngày 15/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Lý Hồng T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T luận tội bị cáo như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, tuyên bố bị cáo Lý Hồng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
- Xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy: 01 gói niêm phong ghi vụ số 2321/23 (theo Kết luận giám định số 11920/KL-KTHS), bên ngoài có chữ ký và tên giám định viên Bùi Công D; chữ ký và tên cán bộ Nguyễn Thị Phương M. Bên trong có 01 gói chứa ma túy còn lại sau giám định; thông báo tìm chủ sở hữu hợp pháp 01 xe mô tô 01 xe mô tô biển số 53XD - 0791, số khung LWGXCHL 00006311, số máy 1P50FMG-10196291, hết thời hạn thông báo tìm kiếm không có người đến nhận thì tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước. Trả lại cho bị cáo 01 Điện thoại di động S A6, màu vàng do không liên quan đến tội phạm.
- - Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xin giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố T, của Kiểm sát viên và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức trong quá trình điều tra truy tố là thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Lý Hồng T phù hợp với nội dung: Biên bản Bắt người phạm tội quả tang lập ngày 23/10/2023 của Công an thành phố T; Kết luận giám định số 11920/KL-KTHS ngày 31/10/2023 của Phòng K - Công an Thành phố H cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở xác định:
Khoảng 19 giờ 20 phút ngày 23/10/2023 trước số nhà G Đường N, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, Lý Hồng T đã có hành vi tàng trữ 0,2604 gam ma túy loại Methamphetamine để sử dụng cho bản thân. Hành vi trên của Lý Hồng T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3] Lời khai của bị cáo đã thống nhất với tội danh và Điều luật mà đại diện Viện kiểm sát đã truy tố, luận tội đối với bị cáo. Như vậy, nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đối với bị cáo Lý Hồng T là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Ma túy là loại chất gây nghiện nguy hiểm, không chỉ gây tổn hại đến sức khoẻ và tinh thần của người sử dụng mà còn làm phá sản về kinh tế của gia đình người nghiện và là một trong những nguyên nhân gây ra tội phạm và các tệ nạn xã hội khác. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy do bị cáo Nguyễn Trọng N1 thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm chính sách của Nhà nước về độc quyền quản lý chất ma túy, bài trừ tệ nạn sử dụng lậu và lạm dụng chất ma túy, mà còn ảnh hưởng xấu đến cuộc sống của người xung quanh. Vì vậy, cần áp dụng một hình phạt nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo, phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo khỏi xã hội trong một thời gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, cũng xét trong quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nên giảm cho bị cáo một phần trách nhiệm hình sự mà lẽ ra bị cáo phải chịu.
Đối với người tên Minh Đ chưa rõ lai lịch, đưa ma túy cho Lý Hồng T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiếp tục xác minh làm rõ, có căn cứ sẽ xử lý sau.
Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là phù hợp tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, phù hợp quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2021:
- - 01 gói niêm phong ghi vụ số 2321/23 (theo Kết luận giám định số 11920/KL-KTHS), bên ngoài có chữ ký và tên giám định viên Bùi Công D; chữ ký và tên cán bộ Nguyễn Thị Phương M. Bên trong có 01 gói chứa ma túy còn lại sau giám định. Đây là chất ma tuý mà Nhà nước cấm tàng trữ nên tịch thu, tiêu hủy;
- - 01 xe mô tô biển số 53XD -0791, số khung LWGXCHL 00006311, số máy 1P50FMG-10196291, T khai mua của người đàn ông (không rõ lai lịch) với giá 1.000.000 đồng, chưa làm giấy tờ mua bán. Qua xác minh, xác định: Biển số: 53XD – 0791 được cấp cho xe mô tô Honda C50, số máy: C50E329288, số khung: C50Y5049297, chủ xe tên: Lâm Văn C2 (Sinh năm: 1948, địa chỉ cũ: 2 B, Quận B cũ, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú hiện nay: B L, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh). Ông C2 cho biết xe mô tô trên mua vào năm 1968 đến năm 1997 thì đăng ký biển số mới là 53XD – 0791 đến năm 2007 thì bán sang tay xe mô tô này cho người đàn ông (không nhớ rõ lai lịch). Đối với số khung: LWGXCHL 00006311, số máy: 1P50FMG - 10196291 được cấp cho xe mô tô hiệu QUICKNEWWAVE, biển số: 52N4-8872, chủ xe tên: Nguyễn Thanh T1 (địa chỉ: 7 Khu phố G, phường A, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh). Hiện nay, ông T1 không cư trú tại địa chỉ trên. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã thông báo tìm kiếm chủ sở hữu của xe mô tô tô trên nhưng chưa có kết quả. Do chưa xác định được thông tin về chủ sở hữu hợp pháp nên giao Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thủ Đức làm thủ tục thông báo tìm kiếm chủ sở hữu hợp pháp đối với 01 xe mô tô biển số 53XD - 0791, số khung LWGXCHL 00006311, số máy 1P50FMG-10196291 trong thời hạn 06 tháng. Hết thời hạn trên không có người đến nhận thì tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Trả lại cho bị cáo 01 Điện thoại di động S A6, màu vàng do không liên quan đến tội phạm.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 151/QĐ-VKS ngày 15/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức và phiếu nhập kho vật chứng số NK24/236C ngày 03/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức).
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- · Tuyên bố bị cáo Lý Hồng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
- - Xử phạt bị cáo Lý Hồng T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/10/2023.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2021:
- - Tịch thu, tiêu hủy: 01 gói niêm phong ghi vụ số 2321/23 (theo Kết luận giám định số 11920/KL-KTHS), bên ngoài có chữ ký và tên giám định viên Bùi Công D; chữ ký và tên cán bộ Nguyễn Thị Phương M. Bên trong có 01 gói chứa ma túy còn lại sau giám định.
- - Giao Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thủ Đức làm thủ tục thông báo tìm kiếm chủ sở hữu hợp pháp đối với 01 xe mô tô biển số 53XD -0791, số khung LWGXCHL 00006311, số máy 1P50FMG-10196291 trong thời hạn 06 tháng. Hết thời hạn trên không có người đến nhận thì tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước.
- - Trả lại cho bị cáo 01 Điện thoại di động S A6, màu vàng.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 151/QĐ-VKS ngày 15/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức và phiếu nhập kho vật chứng số NK24/236C ngày 03/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức).
- Căn cứ vào Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2021; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- - Buộc bị cáo Lý Hồng T phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Thị Thu |
Bản án số 215/2024/HS-ST ngày 22/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 215/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lý Hồng T tàng trữ trái phép chất ma túy
