Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 215/2024/HS-PT

Ngày: 13/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Anh Tuấn

Các Thẩm phán: Ông Phan Vĩnh Chuyển

Ông Bùi Trọng Danh

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Lâm Vũ – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 11 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 206/2024/TLPT-HS ngày 14 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Trần Ngọc S, do có kháng cáo của bị cáo với Bản án hình sự sơ thẩm số 122/2024/HS-ST ngày 12/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

Bị cáo có kháng cáo : Trần Ngọc S (tên gọi khác: Không), sinh ngày 01/11/1992 tại Đà Nẵng; Nơi cư trú: Tổ B, phường H, quận T, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: lao động phổ thông; trình độ văn hóa: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Trần Văn Đ và bà Lê Thị T; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam ngày 03/5/2024, có mặt.

Những người tham gia tố tụng khác không kháng cáo, không bị kháng cáo, không bị kháng nghị: Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ ngày 05/10/2022 đến ngày 30/8/2023 trên địa bàn quận T, thành phố Đà Nẵng, Trần Ngọc S mặc dù không có chức năng, thẩm quyền và khả năng thực hiện thủ tục cấp giấy đăng ký xe mô tô loại Yamaha YaZ 125 nhưng để có tiền tiêu xài, S đã dùng thủ đoạn gian dối nhiều lần chiếm đoạt tiền của anh Nguyễn Huy Quốc H dưới hình thức chuyển khoản Internert B, cụ thể:

Khoảng giữa năm 2021, thông qua mạng xã hội Facebook, anh H quen biết và nhắn tin qua mesenger tài khoản tên "N Son Son" của S. Sau đó, S chủ động nhắn tin qua mesenger cho anh H giới thiệu chuyên buôn bán, thanh lý dòng xe Yamaha YaZ 125. Đồng thời, S nói dối anh H có khả năng làm giấy tờ xe loại Yamaha YaZ 125 để hợp thức hóa việc chuyển các loại phụ tùng từ Malaysia về Việt Nam để lắp ráp sao cho những chiếc xe này có thể đem đi đăng ký hợp pháp được, nếu anh H có nhu cầu thì S sẽ trực tiếp làm cho anh H. Để cho anh H tin tưởng, S gửi nhiều hình ảnh, tài liệu qua messenger thể hiện S đã từng làm hồ sơ đăng ký cho nhiều người khác.

Đến khoảng tháng 08/2022, anh H nhắn tin cho S qua messenger trao đổi S làm các loại giấy tờ để hợp thức hóa việc vận chuyển các phụ tùng xe Yamaha YaZ 125 từ Malaysia về Việt Nam lắp ráp thành 03 xe mô tô có giấy đăng ký xe. S đồng ý, yêu cầu anh H gửi số máy, số khung 03 chiếc xe loại trên và thỏa thuận chi phí 100.000.000 đồng/chiếc. S ứng trước số tiền 150.000.000 đồng để lo công việc và cam kết hoàn thành trong thời gian 06 tháng khi 03 giấy đăng ký xe hiển thị trên hệ thống của Cục Cảnh sát giao thông thì anh H sẽ thanh toán hết số tiền còn lại.

Từ ngày 05/10/2022 đến ngày 30/8/2023, tin tưởng S, anh H 06 lần chuyển tiền dưới hình thức Internet Banking đến các tài khoản Ngân hàng của Trần Ngọc S với tổng số tiền là 143.000.000 đồng, cụ thể:

- Tại tài khoản số 2003206144445 mở ở Ngân hàng N (A): Lần 1: Ngày 05/10/2022 chuyển 60.000.000 đồng. Lần 2: Ngày 11/11/2022, chuyển 20.000.000 đồng. Lần 3: Ngày 23/11/2022 chuyển 10.000.000 đồng.

- Tại tài khoản số 1025648920 mở ở Ngân hàng N1 (V): Lần 4: Ngày 30/01/2023 chuyển 50.000.000 đồng. Lần 5: Ngày 29/8/2023 chuyển 2.000.000 đồng. Lần 6: Ngày 30/8/2023 chuyển 1.000.000 đồng.

Sau khi nhận tiền, S khai rằng đã đưa toàn bộ số tiền đã nhận của anh H cho anh Lưu Văn C để C làm giấy tờ xe cho anh H, khi nào xong việc S sẽ hưởng tiền chênh lệch 10.000.000 đồng/1 xe. Tuy nhiên, việc trao đổi giữa S và C chỉ thỏa thuận miệng, không có giấy tờ chứng minh và anh H không biết việc này. Sau nhiều lần hứa hẹn, đến ngày 23/8/2023, S vẫn chưa hoàn thành các giấy tờ xe theo yêu cầu nên anh H tìm gặp thì được S cho biết không sử dụng số tiền trên vào việc làm giấy tờ, hồ sơ cho anh H và hứa hẹn 10 ngày sau sẽ trả. Đến ngày 20/9/2023, S vẫn không trả lại tiền, nhận thấy mình bị lừa nên anh H đã đến Công an quận T trình báo sự việc.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 122/2024/HS-ST ngày 12/9/2024 của Tòa án nhân dân quận T, thành phố Đà Nẵng đã quyết định: căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: bị cáo Trần Ngọc S 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 03/5/2024. Ngoài ra, Bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 18 tháng 9 năm 2024 bị cáo Trần Ngọc S có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình giống như cáo trạng và nội dung bản án cấp sở thẩm mô tả. Vì vậy, Bản án hình sự sơ thẩm số: 122/2024/HS-ST ngày 12/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã xét xử bị cáo Trần Ngọc S về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình cũng như về nhân thân bị cáo và xử phạt Trần Ngọc S mức án 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù là phù hợp. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của bị cáo và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo khai nhận: Từ ngày 05/10/2022 đến ngày 30/8/2023, mặc dù không có chức năng, thẩm quyền và khả năng thực hiện thủ tục cấp giấy đăng ký xe mô tô loại Yamaha Yaz 125 nhưng để có tiền tiêu xài, Trần Ngọc S đã dùng thủ đoạn gian dối để ông Nguyễn Huy Quốc H tin tưởng chuyển khoản 06 lần thông qua hình thức Internet Banking cho Trần Ngọc S với tổng số tiền là 143.000.000 đồng, sau đó Trần Ngọc S sử dụng vào mục đích cá nhân. Bị cáo Trần Ngọc S thừa nhận Bản án hình sự sơ thẩm số: 122/2024/HS-ST ngày 12/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã xét xử bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 là đúng pháp luật, tuy nhiên, bị cáo cho rằng mức hình phạt cấp sơ thẩm đã tuyên là nặng nên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt với lý do gia đình có hoàn cảnh khó khăn (cha mẹ già, em còn nhỏ), đã khắc phục thiệt hại cho bị hại.

[2] Xét kháng cáo của bị cáo thì thấy: Bị cáo đưa ra thông tin gian dối có thể làm được giấy tờ xe mô tô 2 thì loại Yamaha Yaz 125 để hợp thức hóa việc vận chuyển các loại phụ tùng từ Malaysia về Việt Nam lắp ráp sao cho những chiếc xe này có thể đi đăng ký hợp pháp được, nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác, tài sản chiếm đoạt có giá trị lớn. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự an toàn xã hội, nên cần thiết phải xử phạt thỏa đáng. Bản án sơ thẩm đã đánh giá đầy đủ tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng theo quy định pháp luật; tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ mới. Do đó, Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo như nội dung kháng cáo, mà giữ nguyên mức án như đề nghị của đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.

[3] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[4] Do không chấp nhận kháng cáo nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Ngọc S, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

  2. Căn cứ: Điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt: Trần Ngọc S 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù từ ngày bắt tạm giam, ngày 03/5/2024.

  3. Bị cáo Trần Ngọc S phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
  4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP Đà Nẵng;
  • - Vụ Giám đốc kiểm tra 1;
  • - VKSND quận Thanh Khê,
  • - Công an quận Thanh Khê;
  • - HSNV - Công an Tp. Đà Nẵng;
  • - TAND quận Thanh Khê;
  • - THADS quận Thanh Khê;
  • - Sở Tư pháp TP Đà Nẵng;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: HS; HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Nguyễn Anh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 215/2024/HS-PT ngày 13/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 215/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 13/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger