|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
|
Bản án số: 215/2024/HS-ST Ngày 11-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hồng Lý
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Xuân Quảng
Ông Vũ Văn Thi
áng Phong - Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Minh Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thuỳ Chi - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 201/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 211/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Đỗ Văn N, sinh năm 1977 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn G, xã N, huyện T, Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn H và bà Nguyễn Thị Q; có vợ là Nguyễn Thị Kiều H1 và 03 con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 28/7/2024; có mặt.
- Bị hại : Anh Lò Văn Q1, sinh năm 2005; nơi cư trú cuối cùng: Thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La ( đã chết).
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Lò Văn H2, sinh năm 1977 và bà Tòng Thị S, sinh năm 1977; địa chỉ: Tiểu khu M, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La; vắng mặt.
Người đại diện uỷ quyền của ông Lò Văn H2 và bà Tòng Thị S: Anh Lò Văn M, sinh năm 1998; địa chỉ: Tiểu khu M, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng hơn 11 giờ ngày 05/5/2024, Đỗ Văn N điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Kia Cerato biển kiểm soát 15A-344.72 chở bà Nguyễn Thị T trên đường Q (Quốc lộ E) theo chiều từ Hà Nội về Hải Phòng. Đến đoạn đường có lối mở vào thôn T, xã Đ, huyện A, N quan sát thấy biển báo cấm xe ô tô rẽ trái, do muốn đi tắt từ xã Đ sang xã A để về T nên N cho xe ô tô rẽ trái sang đường ngược chiều để vào thôn T, khi xe ô tô vào đến đầu đường thôn T (tiếp giáp với Quốc lộ E) đã va chạm với xe mô tô không mang biển kiểm soát do anh Lò Văn Q1 điều khiển đi trên làn đường dành cho xe mô tô Quốc lộ E theo chiều từ Hải Phòng đi Hà Nội, xe ô tô của N đi thêm 02 mét vào trục đường thôn T thì dừng lại. Hậu quả anh Lò Văn Q1 chết tại chỗ, xe mô tô bị hư hỏng.
Khám nghiệm hiện trường xác định: Hiện trường nơi xảy ra tai nạn tại nút giao giữa Quốc lộ E, chiều đường H đi Hà Nội, đoạn Km80+800 và đường vào thôn T, xã Đ (đường N). Quốc lộ E mặt đường trải nhựa áp phan nhẵn phẳng, có hai chiều riêng biệt Hải Phòng đi Hà Nội và ngược lại, được phân định với nhau bằng dải phân cách cứng ở giữa. Có lối mở dải phân cách rộng 6,1m, tại đầu lối mở có biển báo Cấm đi ngược chiều. Tại đầu lối mở dải phân cách phía Hà Nội - Hải Phòng có cột mốc H8/80, từ đầu lối mở cách 100m về phía Hà Nội có biển báo Cấm ô tô rẽ trái, quay đầu. Tại lề đường bên phải chiều đường H- Hà Nội cách cột mốc H8/80 có biển báo vị trí người đi bộ sang ngang.
Lấy lề đường bên phải chiều Hải Phòng - Hà Nội làm mép đường chuẩn số 1. Lấy lề đường bên phải chiều đường Quốc lộ 5 đi Ủy ban nhân dân xã Đ của đường trục thôn T làm mép đường chuẩn số 2. Lấy cột mốc H8/80 đặt tại dải phân cách giữa đường Q làm điểm mốc.
Dấu vết cày xước (kí hiệu 1) trên mặt đường Q, dài 2,4 mét, rộng trung bình 0,11 mét, đầu vết cách mép đường chuẩn số 1 là 2,16 mét, điểm cuối vết cách mép đường chuẩn số 1 là 1,89 mét. Đo từ điểm đầu dấu vết, song song với trục đường Quốc lộ 5 đến điểm vuông góc với điểm mốc là 8,5 mét. Dấu vết cày xước (kí hiệu 2), trên mặt đường N, dài 0,6 mét, điểm cuối dấu vết tại giá để chân trái phía trước của xe mô tô không có biển kiểm soát, điểm đầu vết cách mép đường chuẩn số 1 là 1,65 mét và cách mép đường chuẩn số 2 là 1,2 mét, đầu vết cách điểm cuối vết kí hiệu 1 là 01 mét. Nạn nhân Lò Văn Q1 (kí hiệu 3), nằm ngửa trên mặt đường N, đầu hướng phía UBND xã Đ, chân hướng Quốc lộ E. Đỉnh đầu nạn nhân cách mép đường chuẩn số 1 là 3,9 mét. Gót chân bên phải cách mép đường chuẩn số 1 là 2,7 mét.
Xe ô tô biển kiểm soát 15A - 344.72 (kí hiệu 4), đỗ trên đường N, trục trước bên phải cách mép đường chuẩn số 1 là 5,4 mét, cách mép đường chuẩn số 2 là
3,25 mét. Xe mô tô không biển kiểm soát (kí hiệu 5), nằm đổ nghiêng bên trái trên đường N, trục trước cách mép đường chuẩn số 2 là 1,05 mét; trục sau cách mép đường chuẩn số 2 là 1,55 mét.
Khám nghiệm tử thi: Vết xây xước da bầm tím vùng trán phải, trán trái, gò má phải, trái, đỉnh mũi, môi trên, vùng cằm, hàm. Nhiều vết xây xước da bầm tím vùng ngực, có dấu hiệu gãy xương lồng ngực phải. Gãy di lệch biến dạng 1/3 dưới xương đùi phải, gãy di lệch, biến dạng 1/3 trên xương đùi trái. Tìm thấy E trong mẫu dịch máu của Lò Văn Q1, nồng độ 250,2mg/100ml máu (bút lục 84-85). Kết luận giám định số 135/KL-KTHS ngày 22/5/2024 của Phòng K Công an thành phố H, kết luận: Nạn nhân Lò Văn Q1 bị chết do đa chấn thương: chấn thương ngực và gãy xương đùi hai bên .
Khám các phương tiện: Xe ô tô biển kiểm soát 15A-344.72 cạnh trên bên phải kính chắn gió phía trước xe ô tô có dấu vết nứt rạn vỡ lõm kính kích thước 40x45cm, chiều hướng lõm từ trên xuống dưới, trên bề mặt kính có bám dính màu nâu (dạng máu khô), gương chiếu hậu phía trước bên phải bị xô lệch, phần gương vỡ không còn tại vị trí ban đầu. Cánh cửa trước bên phải có đám dấu vết bẹp lõm bám dính tạp chất màu xanh (dạng sơn) và màu đen (dạng cao su), chiều hướng bẹp lõm từ ngoài vào trong, từ phải sang trái. Xe mô tô nhãn hiệu Honda không biển kiểm soát (qua xác minh đăng ký và biển kiểm soát 26H7-8343): càng xe phía trước gãy rời khỏi vị trí lắp ráp, càng bên trái bị cong theo hướng từ trước về sau, vành xe trước bị cong, gập biến dạng, toàn bộ đũa xe bị gãy rời, xô lệch, cong gập, ốp nhựa đầu xe bị vỡ khuyết, phía trước của tay kim loại bắt vít với ốp nhựa phía trước đầu xe, yếm trái phải bị bẹp lõm theo chiều từ trước về sau bám dính tạp chất màu trắng (dạng sơn); phần kim loại ghi đông xe với càng xe bị gãy rời khỏi vị trí lắp ráp.
Kết luận giám định số 1734/KL-KTHS ngày 09 tháng 06 năm 2024 của Phòng K Công an thành phố H, kết luận: Dấu vết bẹp, lõm kim loại, bề mặt in hằn, bám dính tạp chất màu đen và mầu nâu (dạng cao su và bụi đất) hình vân lốp theo chiều từ phải sang trái, từ sau về trước ở mặt ngoài cánh cửa phía trước bên phải (bên phụ) xe ô tô mang Biển kiểm soát 15A-344.72 phù hợp với dấu vết gãy gập kim loại theo chiều từ ngoài vào tâm, trượt xước mất cao su và bụi đất (màu đen và màu nâu) theo chiều ngược chiều chuyển động tiến của bánh xe ở bánh trước xe một tô không mang biển kiểm soát. Kết luận định giá tài sản số 52/KL-HĐĐG ngày 20/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện A, kết luận: Chi phí khắc phục, sửa chữa xe mô tô biển kiểm soát 26H7-8343 là 4.000.000 đồng .Kết quả kiểm tra Đỗ Văn N không có nồng độ cồn và âm tính với các chất ma túy. Cơ quan điều tra đã trả lại xe ô tô biển kiểm soát 15A-344.72 và Giấy phép lái xe ô tô hạng C số [...] cho Đỗ Văn N; trả lại xe mô tô biển kiểm soát 26H7-8343 cho ông Lò Văn H2 (bố anh Lò Văn Q1); chuyển kèm theo hồ sơ vụ án
01 USB dữ liệu camera hiện trường, 01 thẻ nhớ dữ liệu camera hành trình xe ô tô 15A-344.72.Trong vụ án này, anh Lò Văn Q1 tự ý lấy xe mô tô của ông Lò Văn H2 để đi, ông H2 không giao xe cho Quyền nên Cơ quan điều tra không xử lý.
Cáo trạng số 217/CT-VKSAD ngày 10 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Dương đã truy tố bị cáo Đỗ Văn N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Dương giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đỗ Văn N mức án từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng: Xử lý theo quy định của pháp luật. Về dân sự: Đã giải quyết xong nên không đề cập giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện A, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, phù hợp biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám các phương tiện, các kết luận giám định, lời khai người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ kết luận: Khoảng hơn 11 giờ ngày 05/5/2024, Đỗ Văn N có giấy phép lái xe theo quy định điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 15A-344.72 đi trên Quốc lộ E theo chiều Hà Nội về Hải Phòng, khi đến Km 80+800 thuộc thôn T, xã Đ, huyện A, có biển báo cấm ô tô rẽ trái nhưng N vẫn điều khiển xe chuyển hướng rẽ trái sang đường ngược chiều để đi vào lối mở thôn T đã va chạm với xe mô tô do anh Lò Văn Q1 điều khiển đúng làn đường, chiều Hải Phòng đi Hà Nội. Hậu quả làm anh Q1 tử vong tại chỗ, xe mô tô bị hư hỏng.Đỗ Văn N điều khiển xe ô tô không tuân thủ quy tắc về giao thông đường bộ,
đi đến nút giao có biển báo cấm ô tô rẽ trái nhưng N vẫn điều khiển cho xe rẽ trái sang đường ngược chiều, chuyển hướng không đảm bảo an toàn gây tai nạn giao thông làm 01 người chết. Việc điều khiển xe ô tô của N đã vi phạm khoản 1 Điều 11, khoản 2 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ. Đỗ Văn N đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
[3]. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ của người khác được pháp luật bảo vệ nên cần áp dụng hình phạt tương xứng với mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đỗ Văn N không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự .
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đều có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, đã tự nguyện bồi thường thiệt hại xảy ra, đại diện gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo; bố vợ bị cáo có công với Cách mạng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự .
[4]. Về phần hình phạt:
Bị cáo không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, điều khiển phương tiện tham gia giao thông gây hậu quả chết người với lỗi vô ý. Sau khi hậu quả xảy ra, bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại 190.000.000 đồng, đại diện gia đình bị hại không yêu cầu gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, vì vậy áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội là có cơ sở.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 của Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung nhưng xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6]. Về xử lý vật chứng:
01 USB dữ liệu camera hiện trường, 01 thẻ nhớ dữ liệu camera hành trình xe ô tô 15A-344.72 được lưu trong hồ sơ vụ án là tài liệu có trong hồ sơ vụ án nên tiếp tục lưu giữ kèm theo hồ sơ vụ án.
[7]. Về trách nhiệm dân sự trong vụ án: Bị cáo Đỗ Văn N đã bồi thường cho gia đình anh Lò Văn Q1 số tiền 190.000.000 đồng, đại diện gia đình bị hại không
yêu cầu gì thêm. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết vấn đề trách nhiệm dân sự trong vụ án này.
[8]. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Văn N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, xử phạt bị cáo Đỗ Văn N 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Đỗ Văn N.
Giao bị cáo Đỗ Văn N cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự như sau:
Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sĩ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.
Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã; trường hợp không đồng ý thì ủy ban nhân dân cấp xã phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.
Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo Điều 68 của Luật này.
Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Thị Hồng Lý |
8
Bản án số 215/2024/HS-ST ngày 11/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự)
- Số bản án: 215/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: N vi pham qui dinh ve giao thong duong bo
