Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THỦY NGUYÊN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 215/2024/HS-ST

Ngày 23-10-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Minh Huế

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Văn Sóng

Ông Doãn Văn Sáng

Thư ký phiên tòa: Ông Phùng Thế Thành - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuân - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên là điểm cầu trung tâm và tại Trại tạm giam Công an thành phố H là điểm cầu thành phần, Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 186/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 199/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn M, sinh ngày 17 tháng 02 năm 1991 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện T1, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N và bà Đinh Thị L; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 15 tháng 6 năm 2024, chuyển tạm giam từ ngày 21 tháng 6 năm 2024 đến nay; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 15 phút ngày 15 tháng 6 năm 2024, tại khu vực cổng Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Đ thuộc thôn D, xã T, huyện T1, Hải Phòng. Công an xã T phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện T1, Trạm Cảnh sát đường thủy B - Phòng Cảnh sát giao thông thành phố H và Phòng 8 - Cục C, Bộ C1 phát hiện Nguyễn Văn M, có biểu hiện cất giấu trái phép chất ma túy. Tiến hành kiểm tra lực lượng Công an thu giữ tại túi quần phía trước bên trái Nguyễn Văn M đang mặc có 06 đoạn ống nhựa màu đen, mỗi đoạn dài 02cm được hàn kín hai đầu bên trong chứa chất bột màu trắng (nghi là chất ma tuý); tạm giữ 01 xe môtô nhãn hiệu WAVE, màu đỏ, biển kiểm soát: 15G1-746.15 do M điều khiển. Kiểm tra phương tiện không thu giữ được gì. Cơ quan Công an đã lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, đưa M cùng vật chứng về Cơ quan điều tra Công an huyện T1 để điều tra, giải quyết.

Khám xét khẩn cấp nơi ở và khu vực có liên quan của Nguyễn Văn M không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án.

Kết luận giám định số 769/TB-KTHS ngày 18 tháng 6 năm 2024 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận: Chất bột màu trắng trong 06 đoạn ống nhựa màu đen, mỗi đoạn ống dài 2cm đều được hàn kín hai đầu thu giữ trong túi quần phía trước bên trái Nguyễn Văn M đang mặc có khối lượng 0,4 gam là ma túy, loại Heroine.

Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Văn M khai nhận: Do bản thân nghiện ma tuý H nên M thường xuyên phải đi mua ma tuý để sử dụng. Khoảng 14 giờ ngày 15 tháng 6 năm 2024, M điều khiển xe môtô BKS: 15G1-746.15 đi từ nhà tại thôn Đ, xã T2, huyện T1, Hải Phòng đến khu vực đường tàu nội thành Hải Phòng để tìm mua ma túy Heroine. Tại đây, M gặp một người đàn ông không quen biết và mua được của người này 06 đoạn ống nhựa màu đen, mỗi đoạn ống dài khoảng 2cm đều được hàn kín hai đầu, bên trong đều chứa ma túy Heroine với giá 600.000 đồng. Mua được ma túy, M cất trong túi quần phía trước bên trái đang mặc rồi điều khiển xe mô tô đi khu vực phà R để đi làm. Khi M đi đến khu vực cổng Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Đ, thuộc thôn D, xã T, T1, Hải Phòng thì M bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng như trên.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn M khai nhận hành vi cất giấu trái phép 0,4 gam Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt quả tang. Bị cáo nhận thức hành vi phạm tội của mình là sai và mong Hội đồng xét xử xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Số tiền bị cáo dùng để mua ma túy là do bị cáo lao động mà có, xe mô tô BKS: 15G1-746.15 bị cáo mượn của anh Nguyễn Văn T3, anh T3 không biết bị cáo sử dụng xe để đi mua ma túy.Tại Cáo trạng số 205/CT-VKSTN ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên truy tố bị cáo Nguyễn Văn M về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Sau phần xét hỏi công khai tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên phân tích hành vi phạm tội, đánh giá tính chất vụ án, nêu các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội: "Tàng trữ trái phép chát ma túy", Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M từ 18 tháng đến 24 tháng tù.. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày bị bị tạm giữ. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy 0,31 gam Heroine còn lại sau giám định, vỏ bao bì. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì nên các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo Nguyễn Văn M tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai những người chứng kiến, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng thu giữ, phù hợp với Kết luận giám định số 769/KL-KTHS ngày 18 tháng 6 năm 2024 của Phòng K Công an thành phố H, kết hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ xác định: Hồi 15 giờ 30 phút ngày 15 tháng 6 năm 2024, tại khu vực thôn D, xã T, huyện T1, thành phố Hải Phòng, bị cáo Nguyễn Văn M đã có hành vi cất giấu trái phép 0,4 gam ma túy loại Heroine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Theo Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Chính Phủ thì H là chất ma túy thuộc danh mục I, STT 09, danh mục các chất ma túy do Chính phủ ban hành. Bị cáo Nguyễn Văn M là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, hành vi cất giấu 0,4 gam ma túy Heroine trái phép mục đích để sử dụng của bị cáo Nguyễn Văn M đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên truy tố và đề nghị áp dụng đối với bị cáo theo tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn M có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Bị cáo M không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[3.1] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội. Việc mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma tuý không chỉ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, trí lực của con người, mà từ ma túy đã làm phát sinh nhiều tội phạm khác. Chính vì vậy, đối với hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử phạt nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo làm nghề tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng: Lượng ma túy còn lại sau giám định 0,31gam và vỏ bao bì được niêm phong trong một phong bì, dấu niêm phong số 769MT/PC09. Ma túy là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành, vỏ bao bì không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[7] Về các vấn đề khác: Xe mô tô nhãn hiệu WAVE, màu đỏ, biển kiểm soát: 15G1-746.15 thuộc sở hữu hợp pháp của anh Nguyễn Văn T3, anh T3 cho M mượn xe nhưng không biết việc M sử dụng xe đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra không xử lý. Sau khi hoàn thành các hoạt động điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho anh T3.

[8] Trong vụ án này không làm rõ được người bán trái phép chất ma túy cho bị cáo Nguyễn Văn M nên không có căn cứ xử lý.

[9] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn M bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn M có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn pháp luật quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo Nguyễn Văn M tính từ ngày 15 tháng 6 năm 2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Văn M.

- Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: Một bì giấy dấu niêm phong số 769MT/PC09 chứa 0,31 gam chất ma túy Heroine cùng vỏ bao gói của mẫu vật còn lại sau giám định.

(Đặc điểm vật chứng theo Biên Bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25 tháng 9 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T1 và Chi cục Thi hành án dân sự huyện T1).

- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016 buộc bị cáo Nguyễn Văn M phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành án tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TP. Hải Phòng;
  • - Viện KSND TP. Hải Phòng;
  • - Viện KSND huyện T1;
  • - Cơ quan CSĐTCAH T1;
  • - Trại tạm giam Công an TPHP;
  • - Sở Tư pháp HP; Bị cáo;
  • - Chi cục THADSH T1;
  • - Lưu: VT, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Minh Huế

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 215/2024/HS-ST ngày 23/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 215/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án hình sự TTTPCMT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger