Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TÂN UYÊN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 210/2024/HS-ST

Ngày 25-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Hưởng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. 1/ Ông Huỳnh Sơn Tây;
  2. 2/ Ông Nguyễn Thanh Cần.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Yến - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Ái - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 220/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 238/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. 1/ Cao Hoàng T, sinh năm 1999 tại Kiên Giang; nơi cư trú: Ấp H, xã H, huyện G, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Hoàng G và bà Nguyễn Ngọc P; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/7/2023 cho đến nay; có mặt.
  2. 2/ Tiêu Nhật P1, sinh năm 1999 tại Đồng Tháp; nơi cư trú: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tiêu Tấn P2 và bà Huỳnh Thị D; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: ngày 10/01/2018 bị Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã với thời hạn 03 tháng; ngày 25/9/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 12 tháng; bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 01/7/2023 cho đến nay; có mặt.
  3. 3/ Trần Quốc H, sinh năm 2001 tại Hậu Giang; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văm T1 và bà Nguyễn Thanh H1; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 01/7/2023 cho đến nay; có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • - Ông Nguyễn Bảo T2, sinh năm 1999; nơi cư trú: Tổ D, Khu phố G, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt
  • - Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1999; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; vắng mặt.
  • - Ông Phạm Văn S, sinh năm 1992; nơi cư trú: Ấp G, xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước; vắng mặt.

Người làm chứng: Ông Trần Thanh A; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tiêu Nhật Phàm, Cao Hoàng T, Trần Quốc H, Nguyễn Bảo T2, Nguyễn Văn L, Phạm Văn S, Trần Thanh A quen biết với nhau, tất cả đều là đối tượng nghiện ma tuý.

Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 30/6/2023, Cao Hoàng T đi bộ đến phòng trọ của Trần Quốc H tại nhà trọ Phạm Thị D1 thuộc khu phố K, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương để chơi. Khi đến, Cao Hoàng T gặp Tiêu N, Trần Quốc H, Nguyễn Bảo T2 đang ở đây, T rủ P1, H và T2 góp tiền mua ma túy về sử dụng nhưng khi này H và T2 không có tiền nên không nói gì, còn P1 góp số tiền 200.000 đồng, T bỏ ra số tiền 100.000 đồng. Sau đó, P1 đi ra bên ngoài gặp đối tượng nam (không rõ nhân thân) mua ma túy với số tiền 300.000 đồng, mua được ma túy P1 đưa về phòng trọ. Khi P1 đưa ma túy về, H lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy của H đưa cho P1 bỏ toàn bộ số ma túy vừa mua vào bộ dụng cụ rồi P1, T, H, T2 thay phiên nhau sử dụng cho đến hết. Sau đó, T đi về phòng trọ của mình, còn P1, H, Trọng ngủ lại tại phòng trọ của H.

Đến khoảng 09 giờ 00 ngày 01/7/2023, Cao Hoàng T đi đến phòng trọ số 05 nhà trọ Phạm Thị D1 để gặp Tiêu N. Khi đến, Tiêu Nhật P1 đang thức còn Trần Quốc H, Nguyễn Bảo T2 đang nằm ngủ. Lúc này, Cao Hoàng T rủ Tiêu Nhật Phàm mua ma túy về sử dụng, P1 đồng ý nhưng T không đưa tiền cho P1. Sau đó, T đi bộ ra ngoài mua đồ ăn sáng, còn P1 sử dụng điện thoại liên hệ với đối tượng tên H2 (không rõ nhân thân) là bạn quen biết với P1 hỏi mua 300.000 đồng ma túy, H2 đồng ý và hẹn giao ma túy đá ở gần khu vực cây xăng K thuộc phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Sau khi liên hệ mua ma túy xong, P1 gọi điện thoại cho Trần Thanh A qua phòng trọ của P1 để chở bị can P1 đi công việc, A đồng ý. Một lúc sau, A qua phòng trọ của P1 và chở P1 đi đến gần cây xăng H3 thuộc khu phố K, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Lúc này, P1 nói A đứng đợi tại đây, cho P1 mượn xe của A, A đồng ý và giao xe cho P1. Sau đó, P1 điều khiển xe mô tô của A đi đến 01 tiệm cầm đồ (không nhớ tên) tại phường T cầm điện thoại của P1 để lấy tiền. Sau khi cầm xong điện thoại, P1 điều khiển xe đi về địa điểm A đang đứng đợi, trên đường về P1 gặp Phạm Văn S, P1 rủ S đi về phòng trọ của P1 chơi, S đồng ý và đi theo Phàm. Khi về đến địa điểm A đứng đợi, P1 trả xe cho A và mượn xe mô tô hiệu Dream, biển số 61E1-311.32 của S, khi mượn P1 nói đi công việc nên S đồng ý và giao xe cho P1, P1 điều khiển xe đi đến gần cây xăng K gặp và nhận từ H2 01 gói nylon chứa ma túy và đưa cho H2 số tiền 300.000 đồng. Sau khi mua được ma túy. Phàm quay trở lại vị trí A và S đứng rồi P1, A và S cùng đi về phòng trọ của H. Đến khoảng 11 giờ 00 phút cùng ngày, Cao Hoàng T đi lại phòng trọ của H nhìn thấy H đang nằm ngủ còn P1, L, S, A, T2 đang thức, P1 lấy bộ dụng cụ ma túy của H cất trong phòng trọ bỏ ma túy mua được vào trong đó rồi P1, L, S, T, T2 thay phiên nhau sử dụng. Trong lúc đang sử dụng ma túy đá thì bị Cơ quan Công an phường T phát hiện bắt quả tang.

Công an phường T tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng liên quan đến vụ án gồm: 01 nỏ thủy tinh bên trong có chứa chất tinh thể màu nâu; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý; 01 xe mô tô biển số 61E1-311.32. Sau đó, Công an phường T chuyển hồ sơ, vật chứng thu giữ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiếp tục thụ lý điều tra theo thẩm quyền.

Tại Bản kết luận giám định số 382/KL-KTHS ngày 07/7/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: Mẫu tinh thể thu giữ của Cao Hoàng T, Tiêu N gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,0414 gam, loại Methamphetamine.

Cáo trạng số 225/CT-VKS.TU ngày 20/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên truy tố bị cáo Cao Hoàng T và Tiêu Nhật P1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự và truy tố bị cáo Trần Quốc H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị:

Về trách nhiệm hình sự:

  • - Xử phạt bị cáo Cao Hoàng T từ 8 đến 9 năm tù.
  • - Xử phạt bị cáo Tiêu Nhật P1 từ 8 đến 9 năm tù.
  • - Xử phạt bị cáo Trần Quốc H từ 7 đến 8 năm tù.

Về áp dụng biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy đối với nỏ thủy tinh, 01 bộ sử dụng ma túy; trả lại xe mô tô gắn biển số 61E1-311.32 (số khung, số máy không rõ do bị mài mòn) cho ông Phạm Văn S.

Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố, không có ý kiến gì tại phần tranh luận; lời nói sau cùng, các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật, tỏ thái độ ăn năn, hối hận và mong muốn được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  2. [2] Về các yếu tố cấu thành tội phạm: Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố, lời khai của các bị cáo thống nhất lời khai của các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đủ cơ sở xác định: Lần thứ nhất, khoảng 18 giờ ngày 30/6/2023 tại phòng trọ số 5 nhà trọ Phạm Thị D1 thuộc khu phố K, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương (do Trần Quốc H thuê), Cao Hoàng T rủ đồng thời góp 100.000 đồng, T3 Nhật Phàm góp 200.000 đồng, sau khi T3 Nhật Phàm mua 300.000 đồng ma túy đã cùng Trần Quốc H, Cao Hoàng T và Nguyễn Bảo T2 sử dụng; lần thứ 2, khoảng 9 giờ ngày 01/7/2023 tại phòng trọ nêu trên (trong lúc Trần Quốc H ngủ), Cao Hoàng T cùng bàn bạc với Tiêu Nhật P1 tiếp tục mua ma túy sử dụng, sau khi T3 Nhật Phàm mua 300.000 đồng ma túy đã cùng Cao Hoàng T, Nguyễn Bảo T2, Phạm Văn S, Nguyễn Văn L sử dụng. Các bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vì thái độ coi thường pháp luật mà cố ý thực hiện. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến hoạt động quản lý độc quyền của Nhà nước về lĩnh vực chất gây nghiện. Hành vi của các bị cáo Cao Hoàng T, Tiêu Nhật P1 có đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại các điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự; hành vi của bị cáo Trần Quốc H có đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố cũng như luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
  3. [3] Về vai trò đồng phạm: Các bị cáo thực hiện tội phạm với vai trò đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn, cùng là người thực hành tích cực. Bị cáo Cao Hoàng T là người khởi xướng và góp 100.000 đồng để mua ma túy, bị cáo Trần Quốc H cung cấp địa điểm và dụng cụ sử dụng ma túy, bị cáo Tiêu Nhật P1 góp số tiền 500.000 đồng và là người trực tiếp mua ma túy. Bị cáo Cao Hoàng T, Tiêu N phạm tội hai lần nên chịu trách nhiệm hình sự cao hơn bị cáo Trần Quốc H.
  4. [4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải nên được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
  5. [5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  6. [6] Nhân thân của các bị cáo: Các bị cáo đều là đối tượng nghiện ma túy, bị cáo Tiêu Nhật P1 đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
  7. [7] Về mức hình phạt áp dụng đối với các bị cáo: Xét thấy mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo.
  8. [8] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Nỏ thủy tinh, bộ D2 sử dụng ma túy không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy; bị cáo Tiêu Nhật P1 sử dụng xe mô tô biển số 61E1-311.32 làm phương tiện mua ma túy, ông Phạm Văn S không biết nên trả lại cho ông S là phù hợp.
  9. [9] Về án phí sơ thẩm: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Cao Hoàng T, Tiêu N, Trần Quốc H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

  1. 1. Về trách nhiệm hình sự:
    1. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

      Xử phạt bị cáo Cao Hoàng T từ 08 (Tám) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/7/2023.

    2. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

      Xử phạt bị cáo Tiêu Nhật P1 từ 08 (Tám) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/7/2023.

    3. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

      Xử phạt bị cáo Trần Quốc H từ 07 (Bảy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/5/2024.

  2. 2. Về xử lý vật chứng, áp dụng biện pháp tư pháp:

    Căn cứ Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

    • - Tịch thu tiêu hủy: Bì thư đã niêm phong có kí hiệu 382/PC09 bên trong có 01 nỏ thủy tinh; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy;
    • - Trả lại cho ông Phạm Văn S: 01 xe mô tô gắn biển số 61E1-311.32 (số khung, số máy không rõ do bị mài mòn).

    (Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/8/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên)

  3. 3. Về án phí sơ thẩm:

    Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

    Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

    Các bị cáo, đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - PV 06 Công an tỉnh Bình Dương;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Tân Uyên;
  • - Công an thành phố Tân Uyên;
  • - Chi cục THADS thành phố Tân Uyên;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: HS, VT.

TM. H ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Đình Hưởng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 210/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương về hình sự - tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 210/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tổ chức sử dụng trái phép ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger