Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

----------

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------

Bản án số: 215/2023/HS - ST

Ngày: 19/12/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài
Các Hội thẩm nhân dân :

1. Ông Hoàng Văn Long

2. Ông Trần Văn Vinh

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Mai - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, TP Hà Nội
Đại diện VKSND huyện Thanh Trì - TP Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Cường - Kiểm sát viên

Ngày 19 tháng 12 năm 2023, tại Phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 215/2023/HS- ST ngày 21/11/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 215/2023/QĐXXST - HS ngày 06/12/2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Thành Đ, sinh năm 1998; HKTT: Thôn V, xã T, huyện T, Hà Nội; Nơi ở: Số B, Ngõ B Cầu B, xã T, huyện T, Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Đ1 và bà Đặng Thị H; có vợ là Nguyễn Thị Thu T (đã ly hôn) và 02 con sinh năm 2016 và 2020; Tiền án, tiền sự: Ngày 17/8/2022, Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, Hà Nội xử phạt 14 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - chưa được xóa án tích (D chỉ bản số 528 do Công an huyện T lập ngày 27/9/2023); Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 21/9/2023, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T – có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 21/9/2023, Nguyễn Thành Đ đi bộ từ nhà ra khu V, xã T, T, Hà Nội gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 50 gói ma túy đá (mỗi gói đựng trong 01 túi nilon) với giá 5.000.000đồng và mang về nhà ở tại số B Ngõ B Cầu B, xã T, huyện T, Hà Nội cất giữ. Khoảng 18 giờ cùng ngày, Đ mang 50 gói ma túy cất giấy tại túi quần bên phải phía trước rồi đi bộ ra khu vực chung cư Đ, xã T để tìm khách mua ma túy thì bán lại kiếm lời. Đ dự tính bán mỗi gói ma túy với giá 200.000đồng và nếu bán hết số ma túy mang theo, Đ sẽ hưởng lợi 5.000.000đồng.

Đến 19 giờ cùng ngày 21/9/2023, Tổ công tác công an xã H phối hợp với Công an xã T, huyện T làm nhiệm vụ tại khu vực sảnh tòa nhà CT10B Khu C, xã T đã tiến hành kiểm tra hành chính đối với Đ và phát hiện tại túi quần bên phải Đ đang mặc có 50 gói chất bột màu trắng gói trong mỗi túi nilon. Tại chỗ, Đ khai chất bột màu trắng là ma túy đá Đ mang đi bán kiếm lời. Tổ công tác đã lập biên bản phạm tội quả tang, thu giữ toàn bộ tang vật. Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ của Đ 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A12 màu đen.

Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể đối với Đ cho kết quả dương tính. Khám xét nơi ở của Đ, cơ quan điều tra không thu giữ được gì.

Tại bản Kết luận giám định số 6492/KL – KTHS ngày 30/9/2023 của Phòng K, Công an thành phố kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 50 túi nilon đều là ma túy loại Methaphetamine, khối lượng 9,103gam.

Tại cơ quan điều tra:

  • - Nguyễn Thành Đ khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
  • - Đối với người đàn ông bán ma túy cho Đ, Đ khai không biết tên, tuổi, địa chỉ và đặc điểm nhận dạng của người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ.
  • - Đối với chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy A12 thu giữ là tài sản cá nhân của Đ nhưng tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định pháp luật.

Bản cáo trạng số 206/CT - VKSTT ngày 20/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì đã truy tố bị cáo Nguyễn Thành Đạt về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà:

  • * Bị cáo Nguyễn Thành Đ thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nêu trên, thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì truy tố bị cáo là đúng. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo đã thể hiện thái độ ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
  • * Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử :
    • - Áp dụng điểm i, khoản 2 điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Bị cáo từ 9 năm đến 10 năm tù.
    • - Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
    • - Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ của bị cáo; Trả lại bị cáo chiếc điện thoại di động đã thu giữ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra Viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. [2] Về tội danh của bị cáo: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 21/9/2023 tại khu vực sảnh tòa nhà CT10B Chung cư Đ, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội, Nguyễn Thành Đ đã có hành vi cất giấu 9,103gam Methaphetamine với mục đích bán kiếm lời thì bị tổ công tác Công an xã H phối hợp với Công an xã T, huyện T bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội "Mua bán trái phép chất ma túy" được quy định tại điểm i, khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì truy tố bị cáo ra trước Tòa án để xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ pháp lý.

    Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm sự độc quyền của nhà nước về quản lý các chất ma túy. Ma túy là chất gây nghiện huỷ hoại sức khoẻ con người, làm sói mòn đạo đức xã hội và là nguyên nhân gây ra các tội phạm hình sự khác, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội. Do đó, cần thiết phải xử lý bằng pháp luật hình sự đối với bị cáo và cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo bị cáo và giáo dục phòng ngừa chung cho mọi người.

  3. [3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
    • - Tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội trong khi bản án hình sự số 227/2022/HSST ngày 17/8/2022 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, Hà Nội xử phạt bị cáo 14 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (ra trại ngày 12/5/2023) chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này của bị cáo là tái phạm – tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự.
    • - Tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải - tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  4. [4] Về nhân thân bị cáo: Bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích.
  5. [5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự: «Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng » . Xét bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định và đang bị tạm giam nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  6. [6] Về xử lý vật chứng của vụ án:
    • - Số ma túy thu giữ của bị cáo là chất nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy.
    • - Chiếc điện thoại di động thu giữ của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
    • - Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo, bị cáo khai không biết tên, tuổi, địa chỉ và đặc điểm nhận dạng của người này, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ nên Hội đồng xét xử không xem xét.

    Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

  7. [7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo các điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  8. [8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. 1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thành Đ phạm tội «Mua bán trái phép chất ma túy».
  2. 2. Áp dụng: Điểm i, khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành Đ 9 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/9/2023.

  3. 3. Về áp dụng biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
    • - Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong có 8,932gam ma túy loại Methaphetamine bên ngoài có chữ ký của giám định viên, Nguyễn Thành Đ và cán bộ công an xã H;
    • - Trả lại bị cáo chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy A12 màu đen (đã qua sử dụng);

    (các vật chứng hiện đang lưu giữ tại kho tang vật Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Trì theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/12/2023)

  4. 4. Về án phí: Căn cứ các điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

    Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

  5. 5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự:

    Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự ; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân TP Hà Nội;
  • - Viện kiểm sát nhân dân H. Thanh Trì, TP Hà Nội;
  • - Công an huyện Thanh Trì, TP Hà Nội;
  • - Cơ sở giam giữ;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự H.Thanh Trì, Hà Nội;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự H. Thanh Trì, Hà Nội;
  • - Bị cáo.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Hoài

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 215/2023/HS - ST ngày 19/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 215/2023/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thành Đ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger