TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 215/2024/HS-PT
Ngày: 17-5-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Phong.
Các thẩm phán: Ông Trần Phương Đông
Ông Nguyễn Xuân Quang
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Du - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Mỹ Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 31/2024/TLPT-HS ngày 24 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Minh D, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 116/2024/HS-ST ngày 28/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai.
Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Nguyễn Minh D; Giới tính: Nam; Sinh năm 1998, tại Đồng Nai; Nơi cư trú: ấp H, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1950 và bà Trần Thị T, sinh năm 1952; Vợ, con: chưa có;
Tiền án, Tiền sự: không; Bị tạm giam từ ngày 31/8/2023 đến ngày 24/10/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn bằng bảo lĩnh cho đến nay.
Bị cáo vắng mặt.
Ngoài ra, vụ án còn có bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo và không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 06/4/2023, bà Lương Thị L và chị Phạm Thị H cùng trú tại ấp E, xã S, huyện C xảy ra mâu thuẫn về vấn đề quần áo trong quá trình tập Gym tại Nhà văn hóa xã S. Sau đó, Nguyễn Minh D là bạn bè với Nguyễn Quốc L1 (chồng của bà H) nghe được câu chuyện về mâu thuẫn giữa bà H và bà L thì D bức xúc. Khoảng 06 giờ 15 phút, ngày 10/4/2023, D được L1 nhờ chở con đi học bằng xe mô tô biển kiểm soát 59H1-771.37. Sau khi chở con của L1 đi học xong, trên đường về nghĩ đến chuyện bà L hay kiếm chuyện với chị H nên D đã đến phòng tập Gym Nhà văn hóa S thuộc ấp A, xã S, huyện C tìm bà L để giải quyết mâu thuẫn nhưng không gặp. Đến khoảng 06 giờ 45 phút cùng ngày, D mang theo một cây rựa rồi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 59H1-771.37 quay lại phòng Gym để tìm bà L, đến nơi D hỏi "bà L là bà nào?", bà L trả lời "tôi là L đây" thì D liền xông đến dùng tay phải cầm rựa đưa lên chém về phía bà L. Thấy vậy bà L lao vào cầm cán rựa giằng lại nên D chưa chém được. Lúc này, anh Phan Văn V đang tập gym tại đây chạy lại dùng hai tay xốc nách D lên để ngăn cản. Bà L thả cán rựa ra thì D liền vung rựa chém về phía bà L trúng vào cánh tay phải, sau đó D tiếp tục dùng rựa chém thêm hai nhát trúng vào cánh tay trái và cánh tay phải của bà L gây thương tích. Thấy vậy, anh Nguyễn Đức Q và Nguyễn Thị Thùy L2 đang tập gym tại đây cùng chạy đến can ngăn. Bà L được đưa đi Phòng khám điều trị còn Dương cầm rựa điều khiển xe bỏ đi, đến ngày 31/8/2023 thì bị bắt tạm giam.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 3225/KLTTCT-C09B ngày 18/5/2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Sẹo vùng cẳng tay phải 02%, vết biến đổi rối loạn sắc tố da vùng cẳng tay trái 01%, vết biến đổi rối loạn sắc tố da vùng cẳng tay phải 01%. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của bà Lương Thị L là 04%. Vật gây thương tích là vật có cạnh sắc.
Vật chứng vụ án: 01 cây rựa có cán bằng tre dài 71cm, lưỡi bằng kim loại dài 26,5cm; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario, biển kiểm soát 59H1-771.37.
Tại bản án sơ thẩm số 116/2024/HS-ST ngày 28/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai tuyên xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh D 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án được khấu trừ thời giam tạm giam từ ngày 31/8/2023 đến ngày 24/10/2023.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 cây rựa có cán bằng tre dài 71cm, lưỡi bằng kim loại dài 26,5cm hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Mỹ theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 08/11/2023.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 04/12/2023, bị cáo Nguyễn Minh D kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo do bản án sơ thẩm tuyên mức hình phạt quá nặng.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai:
Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo phù hợp về nội dung, hình thức và trong thời hạn nên xem xét giải quyết.
Về nội dung kháng cáo: Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo D 06 tháng tù là mức hình phạt thấp nhất khung hình phạt không nặng như bị cáo trình bày trong đơn kháng cáo. Tại cấp phúc thẩm bị cáo cung cấp đơn cứu xét hoàn cảnh khó khăn nhưng không phải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc, xem xét tình tiết bị cáo cung cấp theo đúng quy định của pháp luật.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh D.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng sơ thẩm và phúc thẩm đều thực hiện đầy đủ, trình tự thủ tục theo quy định pháp luật. Kháng cáo của bị cáo, trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Minh D thừa nhận toàn bộ hành vi của mình theo đúng nội dung vụ án nêu trên.
[3] Về nội dung vụ án: Vào khoảng 06 giờ 45 phút, ngày 10/4/2023 tại phòng tập Gym Nhà văn hóa S thuộc ấp A, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Minh D đã có hành vi vô cớ dùng rựa chém bà Lương Thị L gây tổn thương cơ thể với tỷ lệ 04 %. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai bị hại và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
[4] Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh D:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử, đã đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Minh D phạm tội “Cố ý gây thương tích” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên án.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh, trật tự xã hội tại địa phương. Bị cáo không có mâu thuẫn gì với bị hại mà lại dùng dao rựa là hung khí nguy hiểm chém bị hại thương tích 4%, nên cấp sơ thẩm áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung là có căn cứ đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên xét bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường khắc phục toàn bộ hậu quả cho bị hại; bị cáo là người có nhân thân tốt là những tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tại cấp phúc thẩm bị cáo tiếp tục cung cấp đơn cứu xét do có hoàn cảnh khó khăn là tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó Hội đồng xét giảm nhẹ một phần hình phạt để cho bị cáo có cơ hội sớm hòa nhập với cộng đồng, cũng nhằm thể hiện tính nhân đạo của pháp luật đối với người phạm tội.
[5] Về quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai chưa phù hợp với quan điểm của hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
[6] Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận một phần nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH;
Căn cứ Điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 của Bộ luật tố tụng Hình sự 2015.
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh D sửa bản án sơ thẩm số 116/2024/HS-ST ngày 28/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ.
Áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134; Điều 38; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thượng vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh D phạm tội “Cố ý gây thương tích” xử phạt bị cáo Nguyễn Minh D 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án được khấu trừ thời giam tạm giam từ ngày 31/8/2023 đến ngày 24/10/2023.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 cây rựa có cán bằng tre dài 71cm, lưỡi bằng kim loại dài 26,5cm hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Mỹ theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 08/11/2023.
- Bị cáo Nguyễn Minh D không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm số 116/2024/HS-ST ngày 28/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật sau khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Thanh Phong |
Bản án số 215/2024/HS-PT ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 215/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Minh D phạm tội cố ý gây thương tích
