Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI BÌNH

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 215/2023/HS-ST

Ngày: 15 – 11 – 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lý

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hoàng Văn Đức

2. Ông Trương Công Định

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 202/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 204/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2023, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T, sinh ngày 01/8/1961; Nơi cư trú: Thôn P, xã Đ, huyện Đ1, tỉnh T1; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 07/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Văn S (đã chết) và bà Trần Thị N (đã chết); Có vợ là Phạm Thị V và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1989, con nhỏ nhất sinh năm 1993.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Bản án số 49/2018/HSST ngày 22/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện Đ1, tỉnh T1 xử phạt 01 năm 6 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/7/2019, chấp hành xong án phí ngày 15/10/2018.

Bị tạm giữ từ ngày 12/9/2023 đến ngày 15/9/2023 chuyển tạm giam, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình. (có mặt)

- Người chứng kiến:

+ Anh Phạm Ngọc B, sinh năm 1976. (vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn T2, xã V1, thành phố T1, tỉnh T1.

+ Anh Trần Xuân Q, sinh năm 1969. (vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn L, xã V1, thành phố T1, tỉnh T1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 12/9/2023, Nguyễn Văn T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu WIVERN màu xanh, biển kiểm soát 17K5-5451 từ nhà lên khu vực đường Đ2, tổ 03, phường K, thành phố T1, tỉnh T1 gặp và mua của một người nam giới khoảng 20 tuổi, không biết tên, địa chỉ 02 gói ma túy với giá 300.000 đồng, sau đó T cất 02 gói ma túy vừa mua được vào trong túi quần bên phải rồi điều khiển xe mô tô đi tìm chỗ để sử dụng. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày khi T đi đến đoạn đường đê sông T2 thuộc địa phận thôn T3, xã Đ3, thành phố T1, tỉnh T1 thì bị tổ công tác Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình phát hiện. Tại đây, trước sự chứng kiến của anh Phạm Ngọc B và anh Trần Xuân Q, T tự giác lấy từ túi quần bên phải của mình ra giao nộp cho tổ công tác 02 gói giấy tráng kim màu trắng, bên trong đều có chứa chất bột màu trắng dạng cục và khai nhận đó là ma túy, loại Heroine của T vừa mua để sử dụng cho bản thân, kiểm tra người T thu tại túi quần bên trái của T 01 ví giả da màu nâu bên trong có 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn T, 01 đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Lê Hồng P1, kiểm tra xe mô tô của T không phát hiện, thu giữ gì. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và làm các thủ tục theo quy định của pháp luật.

Bản kết luận giám định số 1375/KL-KTHS ngày 15/9/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Mẫu vật quản lý của Nguyễn Văn T gửi giám định là ma túy, loại Heroin (Heroine), có khối lượng 0,1759 gam (không phẩy một nghìn bảy trăm năm mươi chín gam).

Bản Cáo trạng số 211/CT-VKSTPTB ngày 30 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố ra trước Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình để xét xử đối với Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình giữ nguyên quan điểm đã truy tố trong bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự: Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T mức án từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì bên ngoài ghi số 1375/KL-KTHS.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình đã truy tố và không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của Kiểm sát viên.

Bị cáo Nguyễn Văn T nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng, kết luận giám định, lời khai người chứng kiến và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 12/9/2023, tại đoạn đường đê sông T2 thuộc địa

phận thôn T3, xã Đ3, thành phố T1, tỉnh T1, Nguyễn Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 02 gói ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,1759 gam với mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự:

  1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
    • Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

Hành vi của Nguyễn Văn T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, ma túy là loại chất gây nghiện gây tác hại xấu cho sức khỏe con người, là nguyên nhân phá hoại hạnh phúc của bao gia đình và còn phát sinh các tệ nạn xã hội khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội. Bản thân bị cáo là người đã thành niên, có nhận thức đầy đủ về tính chất nguy hiểm cũng như hậu quả của hành vi do mình thực hiện nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm.

[3] Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để cải tạo, giáo dục bị cáo, góp phần đấu tranh phòng ngừa chung.

[6] Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc

tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy bị cáo là lao động tự do, không có công việc ổn định do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng: Theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Số ma túy thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn T còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.

[8] 01 xe mô tô nhãn hiệu WIVERN màu xanh, biển kiểm soát 17K5-5451, tài liệu điều tra xác định chiếc xe mô tô là tài sản hợp pháp của vợ chồng bị cáo Nguyễn Văn T, 01 ví giả da màu nâu, 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn T, 01 đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Lê Hồng P1 là của Nguyễn Văn T. Ngày 12/9/2023 bị cáo Nguyễn Văn T lấy xe đi mua ma túy nhưng không nói cho vợ là bà Phạm Thị V biết đi đâu, làm gì nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Bình đã trả lại những tài sản, đồ vật trên cho bà Phạm Thị V.

[9] Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo Nguyễn Văn T khai mua ma túy của một người nam giới khoảng 20 tuổi không biết tên, địa chỉ tại khu vực đường Đ2, tổ 03, phường K, thành phố T1, tỉnh T1 ngày 12/9/2023, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Bình không có căn cứ để xử lý.

[10] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47, Điều 50 Bộ luật Hình sự, Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 12/9/2023).
  3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy thu giữ của Nguyễn Văn T hoàn lại sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì, bên ngoài ghi số 1375/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình.

(Vật chứng đã được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 30/10/2023).

  1. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  2. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
  • - Trại tạm giam/Nhà tạm giữ;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thái Bình;
  • - Lưu hồ sơ vụ án; VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Lý

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 215/2023/HS-ST ngày 15/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 215/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger