Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THANH HOÁ

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 215/2024/HS-ST

Ngày: 14- 5- 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN ND THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thủy

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hạnh

Bà Mai Thị Tiếp

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Hà - Thư ký Tòa án thành phố Thanh Hóa

- Đại diện VKSND thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa:

Bà Dương Thị Kim C - Kiểm sát viên

Ngày 14 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 231/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 243/2024/QĐXXST - HS ngày 02/5/2024 đối với bị cáo:

Trịnh Ngọc Q, sinh năm 1994 tại Thanh Hóa. Nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trịnh Ngọc T, và bà: Đỗ Thị H; Tiền án, tiền sự: không; tạm giữ: ngày 29/02/2024 đến ngày 05/3/2024 thay thế biện pháp ngăn chặn bằng cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt

Bị hại: Anh Hà Quốc H1, sinh năm 2003 “vắng mặt”

Địa chỉ: Bản C, xã P, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên chiều ngày 27/02/2024, Trịnh Ngọc Q một mình đi bộ đến khu vực phố T, phường Q, thành phố T để trộm cắp tài sản. Khi đi đến nhà trọ M ở phố T, phường Q, Q nhìn thấy 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave Alpha màu đen, BKS 36H5-133.59 của anh Hà Quốc H1 không khóa cổ xe, dựng ở gần lối ra vào, không có ai trông coi nên Q vào dắt xe đưa ra ngoài. Sau khi lấy được xe, Q mang đến cửa hàng sửa khóa của chị Nguyễn Ngọc Q1, sinh năm 1990 ở H C, phố T, phường Q nói với chị Q1 là xe của Q bị mất chìa khóa, nhờ cắt khóa. Chị Q1 đồng ý và gọi điện thoại cho anh Đỗ Văn H2, sinh năm 1987 ở xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa đến cắt chìa khóa. Sau đó, Q điều khiển xe về nhà tại thôn T, xã T, huyện T.

Ngày 29/02/2024, Q đến Cơ quan Công an đầu thú về hành vi phạm tội của mình và giao nộp lại chiếc xe đã trộm cắp.

Ngày 04/3/2024, Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự đã xác định chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave Alpha màu đen mà Q trộm cắp có giá trị 15.000.000 đồng. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe cho anh H1, anh H1 không có yêu cầu bồi thường gì thêm.

Đối với Nguyễn Ngọc Q1Đỗ Văn H2 đã cắt chìa khóa xe máy cho Q nhưng không biết là tài sản do Q phạm tội mà có nên không có căn cứ xem xét, xử lý.

Tại bản cáo trạng số 162/CT-VKS ngày 08 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thanh Hoá truy tố Trịnh Ngọc Quân về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hoá giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ tháng 24 đến 30 tháng. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị về án phí.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiền hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại cùng các tài liệu khác phản ánh trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở chứng minh: Khoảng 14h30 ngày 27/02/2024, Trịnh Ngọc Q đã trộm cắp của anh Hà Quốc H1 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave Alpha màu đen, BKS 36H5-133.59 trị giá 15.000.000 đồng (mười lăm triệu)

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi phạm tội của Trịnh Ngọc Q có đủ các dấu hiệu cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội danh và khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở, đúng pháp luật.

[3] Tính chất vụ án, nhân thân và trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Lợi dụng chủ sở hữu tài sản sơ hở trong việc quản lý tài sản, bị cáo đã nhanh chóng lén lút chiếm đoạt tài sản. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội không những đã xâm phạm đến trật tự trị an nói chung mà còn xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản nói riêng, do đó cần được xử lý nghiêm minh.

Khi áp dụng hành phạt cần căn cứ điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo vì bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại các cơ quan pháp luật thành khẩn khai báo, đầu thú.

Với nhân thân và tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, mặt khác bị cáo có nơi cư trú trú rõ ràng nên không cần thiết cách ly khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, sớm trở thành công dân có ích cho xã hội, căn cứ Điều 65 Bộ luật hình sự.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Anh Hà Quốc H1 đã nhận lại tài sản đầy đủ và không có yêu cầu gì thêm nên công nhận phần dân sự giữa bị cáo và anh H2 đã được giải quyết xong.

[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 của Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Ngọc Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt: Trịnh Ngọc Q 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thòi gian thử thách là 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho U, huyện T, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Về trách nhiệm dân sự: Công nhận phần dân sự giữa bị cáo và bị hại đã được giải quyết xong.

- Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm

Bị cáo có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án đối với khoản tiền án phí theo quy định tại các Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc ngày niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND TPΤΗ;
  • - Công an TPTH;
  • - TAND tỉnh TH
  • - VKD ND tỉnh T
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM.

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 215/2024/HS-ST ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ, TỈNH THANH HÓA về trộm cắp tài sản (tội phạm hình sự)

  • Số bản án: 215/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Tội phạm hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger