|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 215/2023/HNGĐ-ST.
Ngày: 11/8/2023.
V/v tranh chấp HNGĐ - Ly hôn nuôi con.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Bình.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Tô Ngọc Liêm.
- Ông Ngô Văn Được.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thảo - Thư ký Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang: Ông Nguyễn Phước Lợi – kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 380/2023/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2023 về tranh chấp hôn nhân gia đình “Ly hôn – nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 344/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1983; cư trú: số B tổ A ấp M, xã N, huyện C, tỉnh An Giang.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu Đ, sinh năm 1982; Nơi cư trú: số B tổ A ấp M, xã N, huyện C, tỉnh An Giang. Vắng mặt.
Địa chỉ liên lạc: 78 Đ, phường A, quận N, thành phố C. Có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà P trình bày: Bà và ông Nguyễn Hữu Đ do quen biết, tìm hiểu và tiến tới hôn nhân năm 2003, có đăng ký kết hôn theo quy định. Vợ chồng chung sống đến cuối năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm vợ chồng không còn chung sống từ đó cho đến nay, nhận thấy tình cảm không còn yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Hữu Đ.
Về con chung: vợ chồng có 03 con chung tên Nguyễn Văn P1, sinh ngày 25/6/2005 đã thành niên; Nguyễn Quốc H, sinh ngày 21/10/2007; Nguyễn Thuận A, sinh ngày 23/9/2017 hiện các con đang sống với bà, khi ly hôn yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con chung chưa thành niên, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Bị đơn và ông Nguyễn Hữu Đ đã được Tòa án triệu tập tham gia tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến gởi đến Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định của pháp luật. Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt; Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt là đúng quy định. Về ý kiến về việc giải quyết vụ án: Về hôn nhân: bà P, ông Đ kết hôn và có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Vợ chồng sống chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm và không còn chung sống với nhau từ năm 2020, nhận thấy tình cảm không còn, bà P yêu cầu ly hôn; vợ chồng có vợ chồng có 03 con chung tên Nguyễn Văn P1, sinh ngày 25/6/2005 đã thành niên; Nguyễn Quốc H, sinh ngày 21/10/2007; Nguyễn Thuận A, sinh ngày 23/9/2017 hiện đang sống với bà P, khi ly hôn bà P yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con chung chưa thành niên, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con; ông Đ không có ý kiến phản hồi và không tạo điều kiện cho nhau để hàn gắn hạnh phúc vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên việc bà P xin ly hôn với ông Đ và yêu cầu cầu được tiếp tục nuôi con chung là phù hợp Điều 56, 80, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình. Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có, nên không đề cập giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1].Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn có nơi cư trú tại xã N, huyện C, tỉnh An Giang, nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại các Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 để tham gia phiên tòa, nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là có căn cứ.
[2].Về nội dung tranh chấp: bà P ông Đ kết hôn năm 2003 và có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên quan hệ hôn nhân giữa được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Theo bà P trình bày, trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm vợ chồng không còn chung sống từ cuối năm 2020 cho đến nay. Nhận thấy, tình cảm không còn, bà P yêu cầu ly hôn với ông Đ. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án về việc bà P yêu cầu ly hôn và triệu tập ông Đ tham gia các phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải và tham gia phiên tòa, nhưng ông Đ vẫn vắng mặt và không có ý kiến phản đối yêu cầu ly hôn của bà P. Xét thấy, mâu thuẫn giữa bà P, ông Đ nguyên nhân bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cự cải nhau và không còn chung sống từ cuối năm 2020 cho đến nay. Trong thời gian này, hai bên cũng không tạo điều kiện cho nhau hàn gắn tình cảm vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà P xin ly hôn ông Đ.
[3] Về quan hệ con chung: vợ chồng có 03 con chung tên Nguyễn Văn P1, sinh ngày 25/6/2005 đã thành niên; Nguyễn Quốc H, sinh ngày 21/10/2007; Nguyễn Thuận A, sinh ngày 23/9/2017 hiện đang sống với bà P, khi ly hôn bà P yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung 03 con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, từ khi vợ chồng không còn sống chung với nhau, con chung do bà P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cuộc sống đã ổn định, trong quá trình giải quyết ông Đ cũng không có ý kiến phản đối, nguyện vọng cháu H cũng mong muốn được tiếp chung sống với mẹ. Do đó, để bà P tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu H và cháu A là phù hợp với pháp luật, ông Đ không phải cấp dưỡng nuôi con. Đối với cháu Nguyễn Văn P1 đã trưởng thành nên không xem xét đến.
[4] Về quan hệ tài sản chung: không yêu cầu giải quyết.
[5] Về quan hệ nợ chung: không có.
[6] Án phí hôn nhân sơ thẩm: bà P phải chịu là 300.000đ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 227, 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 56, 80, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- - Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị P xin ly hôn ông Nguyễn Hữu Đ.
- Giấy chứng nhận kết hôn số 185 ngày 17 tháng 12 năm 2003 do Ủy ban nhân dân xã N, huyện C, tỉnh An Giang cấp không còn giá trị pháp lý.
- - Về quan hệ con chung: Bà Nguyễn Thị P được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung tên Nguyễn Quốc H, sinh ngày 21/10/2007; Nguyễn Thuận A, sinh ngày 23/9/2017; ông Nguyễn Hữu Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Bà P cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Đ trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
- - Về quan hệ tài sản chung: các bên không yêu cầu giải quyết.
- Về quan hệ nợ chung: Không có. Ghi nhận việc bà P xác định không có nợ chung trong thời kỳ hôn nhân, nhưng sau khi quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có người khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, thì bà P, ông Đ phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
- - Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, bà Nguyễn Thị P, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, theo biên lai thu số 0013601 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 29/3/2022.
Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thanh Bình |
Bản án số 215/2023/HNGĐ-ST ngày 11/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hngđ - ly hôn nuôi con
- Số bản án: 215/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp HNGĐ - Ly hôn nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/08/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: nguyên đơn xin ly hôn vì tinh cảm không còn
