Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHỢ MỚI

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 215/2023/DS-ST

Ngày: 6/12/2023.

V/v tranh chấp chia di sản thừa kế

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Bình.

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Võ Thanh Nhàn;

Bà Phan Thị Nga.

- Thư ký phiên toà: Bà Võ Thị Thảo, Thư ký Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thụy Thùy Trang, Kiểm sát viên.

Ngày 6 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 98/2022/TLST-DS, ngày 21 tháng 3 năm 2022 về việc tranh chấp: “Chia di sản thừa kế” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 520/2023/QÐST-DS ngày 20 tháng 10 năm 2023 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Trần Văn L, sinh năm 1964; nơi cư trú: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang; có mặt.
  2. Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn ông Bùi Quốc N, luật sư – chi nhánh công ty L1 thuộc Đoàn luật sư thành phố C; có mặt.

  3. Bị đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm 1984, nơi cư trú: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang; có mặt.
  4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
    • 3.1. Bà Trần Thị T1, sinh năm 1982, nơi cư trú: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang; có mặt.
    • 3.2. Bà Trần Thị T2, sinh năm 1983, nơi cư trú: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang; có mặt.
    • 3.3. Ông Lâm Văn K, sinh năm 1978; cư trú: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.
    • 3.4. Bà Lâm Thị Thu T3, sinh năm 1999; cư trú: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.
    • 3.5. Anh Lâm Văn K1, sinh năm 2005; cư trú: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.
    • 3.6. Bà Phạm Thị X, sinh năm 1955; cư trú: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.
    • 3.7. Ông Nhan Ngọc N1; sinh năm 1949; vắng mặt.
    • 3.8. Ông Nhan Hữu Đ; vắng mặt.
    • 3.9. Ông Nhan Đại Â; sinh năm 1972; vắng mặt.
    • 3.10. Bà Nguyễn Chi A, sinh năm 1977; vắng mặt.
    • 3.11. Bà Trần Thoại T4; vắng mặt.
    • Cùng cư trú: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang;

    • 3.12. Bà Đào Thị B, sinh năm 1953; vắng mặt.
    • 3.13. Anh Hà Văn H, sinh năm 1977; vắng mặt.
    • 3.14. Anh Hà Văn P, sinh năm 1979; vắng mặt.
    • 3.15. Anh Hà Văn Q, sinh năm 1984; vắng mặt.
    • Cùng cư trú: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang.

    • 3.16. Anh Hà Văn P1, sinh năm 1989; cư trú ấp V, xã B, thị xã G, tỉnh Tiền Giang; vắng mặt.
    • 3.17. Bà Dương Bảo Q1; vắng mặt.
    • 3.18. Cháu Trần Thiên N2, sinh năm 2014; vắng mặt.
    • 3.19. Cháu Trần Phúc A1, sinh năm 2020; vắng mặt.
    • Cùng cư trú: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang. Người đại diện theo pháp luật của cháu Thiên N3 và cháu Phúc A2 là ông Trần Văn T và bà Dương Bảo Q2 (cha mẹ ruột).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn ông Trần Văn L trình bày: Vợ ông tên Nguyễn Thị H1, chết năm 2016, ông và bà H1 có 3 người con: Trần Thị T1, Trần Thị T2Trần Văn T. Khi ông và bà H1 còn sống thì có tạo dựng chung số tài sản gồm:

Tài sản thứ nhất: Diện tích đất 1.418m² thuộc thửa 12 tờ bản đồ số 18 loại đất ở nông thôn và cây lâu năm do Trần Văn L đứng tên quyền sử dụng đất số H0380bB do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 07/4/2006 trên đất có một cây xăng (tạm ngưng hoạt động); một căn nhà của ông và bà H1 hiện ông T đang ở cùng vợ con. Hiện trạng khu đất đã xây dựng hàng rào ngăn cách với các hộ tứ cận xung quang qua đo đạc thực tế thì thiếu 56,6m² phía gia đình ông Hà Văn S (chết) đang sử dụng. Diện tích thực tế đang sử dụng là 1.361,4m² nên chỉ yêu cầu chia thừa kế đối với diện tích thực tế còn lại theo đo đạc là 1.361,4m². Đối với diện tích 56,6m² hiện phía gia đình ông Hà Văn S (chết) đồng ý khấu trừ vào phần tài sản của ông, đồng ý để hộ ông S được tiếp tục sử dụng. Phần đất và nhà với cây xăng thì ông yêu cầu chia theo quy định pháp luật.

Tài sản thứ hai: Diện tích đất 1.287m² thuộc thửa 22 tờ bản đồ số 8 loại đất ở nông thôn do tôi Trần Văn L và bà Nguyễn Thị H1 đứng tên quyền sử dụng đất số H0378bB do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 07/4/2006 trên đất có một căn nhà của con Trần Thị T1 cất trên phần đất này; ngoài ra có cho bà Phạm Thị X cất nhà ở nhờ cho đến nay; phía sau căn nhà của bà T1 và bà X là bãi đóng tàu do tôi Trần Văn L quản lý. Nay yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật yêu cầu được nhận toàn bộ diện tích đất này đồng ý khấu trừ phần đất diện tích 110,3m² căn nhà của vợ chồng T1 đang cất nhà ở không yêu cầu chia, còn phần đất bà X cất nhà ở, đồng ý cho bà X ở đến hết đời thì phải trả lại đất. Ông đồng ý hoàn lại giá trị cho các đồng thừa kế khác.

Tài sản thứ ba: Diện tích đất 1.748m² thuộc thửa 100 tờ bản đồ số 18 loại đất ở nông thôn và cây lâu năm do tôi Trần Văn L và bà Nguyễn Thị H1 đứng tên quyền sử dụng đất số H0379bB do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 07/4/2006 trên đất có một căn nhà kho dùng để chứa đồ của gia đình, phía sau nhà kho là khu đất vườn trồng dừa; phần đất này dài đến ấp chiến lược. Phần đất này tôi đã xây tường rào xung quanh để bảo vệ khu đất nhưng xây không hết phần diện tích được cấp, hiện tôi chỉ sử dụng diện tích 1.490,7m², phần còn lại thì ông N1 đang sử dụng phần đất ao diện tích 91,9m² và phần đất cặp ranh 109,7m²; phần đất diện tích 112,8m² (trong đó ông Nhan Hữu Đ đang sử dụng 17,7m², ông Nhan Đại  sử dụng diện tích 38m² còn lại đất trống). Đối với các phần đất do ông N1, ông Â, ông Đ đang sử dụng thì đồng ý để họ tiếp tục sử dụng ông không tranh chấp; yêu cầu khấu trừ vào phần tài sản ông được hưởng.

Do bà H1 chết không để lại di chúc nên yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với các tài sản trên.

Bị đơn anh Trần Văn T trình bày: Cha là Trần Văn L, mẹ tên Nguyễn Thị H1, chết năm 2016 cha mẹ có 3 người con cụ thể: Trần Thị T1, Trần Thị T2 và tôi là Trần Văn T. Mẹ chết không có để lại di chúc. Lúc cha mẹ còn sống thì có tạo dựng chung số tài sản gồm:

Tài sản thứ nhất: Diện tích đất 1.418m² thuộc thửa 12 tờ bản đồ số 18 loại đất ở nông thôn và cây lâu năm do cha Trần Văn L đứng tên quyền sử dụng đất số H0380bB do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 07/4/2006 trên đất có một cây xăng (tạm ngưng hoạt động); một căn nhà của cha mẹ cất hiện tôi đang quản lý, hiện đang sinh sống cùng vợ là Dương Bảo Q1 cùng 2 con là Trần Thiên N2, sinh năm 2014, Trần Phúc A1, sinh năm 2020 và dùng để thờ cúng mẹ, phía sau liền lề căn nhà là phần khu mộ của mẹ, phía sau khu mộ là khu bể chứa xăng dầu; phía sau khu xưởng đóng tàu hiện tôi và cha tôi ông L vẫn làm chung;

Tài sản thứ hai: Diện tích đất 1.287m² thuộc thửa 22 tờ bản đồ số 8 loại đất ở nông thôn cha Trần Văn L, mẹ Nguyễn Thị H1 đứng tên quyền sử dụng đất số H0378bB do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 07/4/2006 trên đất có một căn nhà của bà Trần Thị T1 đã lâu tôi không nhớ rõ thời gian trước lúc mẹ còn sống thì có kêu bà T1 cất trên phần đất này; ngoài ra lúc sống có cho bà Phạm Thị X cất nhà ở trên đất; phía sau căn nhà của bà T1 và bà X là xưởng đóng tàu do cha Trần Văn L và tôi quản lý.

Tài sản thứ ba: Diện tích đất 1.748m² thuộc thửa 100 tờ bản đồ số 18 loại đất ở nông thôn và cây lâu năm do cha Trần Văn L và mẹ Nguyễn Thị H1 đứng tên quyền sử dụng đất số H0379bB do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 07/4/2006 trên đất có một căn nhà kho dùng để chứa đồ của gia đình, phía sau nhà kho là khu đất vườn trồng dừa; phần đất này dài đến ấp chiến lược lúc này là đất trống chưa có nhà của ông Nhan Đại ÂNhan Hữu Đ.

Nay không đồng ý chia thừa kế phần di sản của mẹ theo yêu cầu của ông L vì lúc còn sống thì mẹ có ý nguyện để khối tài sản này để cho cha và các con dùng để làm sinh sống sau này.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị T1 trình bày: bà là con của ông Trần Văn L và bà Nguyễn Thị H1 chết năm 2016, cha mẹ có 3 người con là Trần Văn T, Trần Thị T1Trần Thị T2. Mẹ chết không để lại di chúc, di sản mẹ để lại có 03 tài sản là quyền sử dụng đất theo như cha ông Trần Văn L trình bày. Đối với phần đất có căn nhà cha mẹ và cây xăng không đồng ý chia đề nghị để làm phủ thờ. Đối với phần đất 1.490,7m² theo kết quả đo đạc thực tế bà yêu cầu được nhận toàn bộ diện tích theo đo đạc thực tế này, bà sẽ hoàn lại phần hưởng cho các đồng thừa kế khác, đối với phần đất diện tích đất 1.287m² có căn nhà bà đang ở trên đất thì bà đồng ý di dời nhà để lại lại đất chia thừa kế không yêu cầu bồi thường di dời nhà. Đối với phần hưởng theo di sản của mẹ thì đồng ý nhận theo quy định pháp luật.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị T2 trình bày: bà là con của ông Trần Văn L và bà Nguyễn Thị H1 chết năm 2016, cha mẹ có 3 người con là Trần Văn T, Trần Thị T1Trần Thị T2. Mẹ chết không để lại di chúc, di sản mẹ để lại có 03 tài sản là quyền sử dụng đất, nhà theo như cha ông Trần Văn L trình bày đối với phần hưởng theo di sản của mẹ thì đồng ý nhận theo quy định pháp luật.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nhan Hữu Đ trình bày: ông cất nhà ở trên đất khoảng trước năm 2000, nguồn gốc đất là của ông bà để lại, do hoàn cảnh nghèo nên đi làm thuê không có ở nhà thừa xuyên, nên khi ông L kê khai đăng ký quyền sử dụng đất thì ông không hay biết, nay ông yêu cầu được tiếp tục trên đất, phía gia đình ông L không có ý kiến tranh chấp gì thì ông không có ý kiến đối với vụ án chỉ yêu cầu được tiếp tục ở trên đất.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Chi A trình bày: bà là vợ ông Nhan Đại Â, phần đất mà vợ chồng bà cất nhà để ở có nguồn gốc là của cha mẹ chồng sang nhượng của người khác để cho vợ chồng cất nhà ở đã trên 20 năm, khi cất nhà ở cho đến nay không ai tranh chấp.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nhan Ngọc N1 trình bày: ông là người sử dụng đất giáp ranh với đất ông L, quá trình sử dụng đất thì ông L đã xây dựng hàng rào xung quang đất để bảo vệ đất phần đất, nay ông L cũng không tranh chấp ông không có ý kiến gì.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông P trình bày: ông là con của ông Hà Văn S. Phần đất mà gia đình ông đang sử dụng thì giáp ranh với phần đất của ông L, khi ông L nhận sang nhượng đất của người khác về ở giáp ranh với gia đình thì ông L có xây dựng tường rào để xác định ranh giữa hai bên với nhau, lúc đó các bên thống nhất ranh với nhau đã xong, nay phía ông L cho rằng đất gia đình sử dụng lấn qua phần đất của ông L là không đồng ý vì đã thống nhất ranh với nhau từ rất lâu khi ông L về cất nhà ở.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị X trình bày: bà và bà H1 là bà con với nhau (H1 kêu bà bằng dì). Năm 1995 vợ chồng H1L nhờ bà mai mối snag nhượng 1 phần đất và kêu tôi về ở để giữ đất, nên vào năm 1995 bà có cất 01 căn nhà để ở trên đất từ đó cho đến nay, quá trình sử dụng có hư hỏng do ngập nước nên bà mới cải tạo nâng nền cao lên như hiện nay. Khi bà cải lại là nhà thì không ai tranh chấp. Do đã cất nhà ở ổn định nên yêu cầu được ở đến hết đời của bà nếu ông L muốn lấy lại thì phải trả cho tôi số tiền 500.000.000₫.

Tại phiên tòa nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Người bảo vệ lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Ông Trần Văn L và bà Nguyễn Thị H1 là vợ chồng, trong thời kỳ hôn nhân ông L, bà H1 có tạo lập và đứng tên các tài sản là 03 quyền sử dụng đất, cây xăng và quyền sở hữu nhà ở. Năm 2016 bà H1 chết, trước khi bà H1 chết thì bà không để lại di chúc phần tài sản của bà cho ai, nay ông L yêu cầu chia thừa kế theo quy định pháp luật gồm:

  • - Diện tích đất 1.418m² thuộc thửa số 12, tờ bản đồ số 18, loại đất ở nông thôn và cây lâu năm do ông L, bà H1 đứng tên quyền sử dụng đất số H0380bB do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 07/4/2006; trong đó ½ tài sản của ông L là 709m², ông L tự nguyện đồng ý khấu trừ diện tích đất 56,6m² mà gia đình ông S đang quản lý, sử dụng và diện tích khu mộ bà H1 là 23m² vào diện tích 709m² phần của ông. Sau khi khấu trừ diện tích đất khu mộ, đất gia đình ông S quản lý sử dụng là 79,6m² phần ông L còn lại là 629,4m². Diện tích đất còn lại 709m² là phần di sản của Hường được chia làm 4 phần, ông L được hưởng ¼ là 177,25m². Như vậy, đối với diện tích đất 1.418m² thì phần ông của ông L và phần ông được nhận thừa kế từ bà H1 tổng cộng là 806,65m².
  • - Đối với căn nhà có diện tích 254,8m² trong đó ½ tài sản của ông L là 127,4m², còn lại diện tích 127,4m² là di sản của bà H1, ông L được hưởng ¼ là 31,85m². Như vậy phần nhà ông L được hưởng là 159,25m².
  • - Đối với cây xăng và tài sản khác gắn liền với cây xăng thì ½ là của ông L và ông L được hưởng ¼ di sản của bà H1 để lại.

Toàn bộ diện tích đất, nhà, cây xăng hiện nay do anh T quản lý, sử dụng, vì vậy anh T có nghĩa vụ hoàn giá trị đất, nhà, cây xăng và tài sản gắn liền với cây xăng lại cho ông L theo giá của Hội đồng định giá huyện C đã định.

  • - Diện tích đất 1.287m² thuộc thửa 22, tờ bản đồ số 8 loại đất ở nông thôn do ông L và bà H1 đứng tên quyền sử dụng đất số H0378bB do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 07/4/2006, trên đất có căn nhà của chị Trần Thị T1 diện tích 112,9m² diện tích này trước đây ông L, bà H1 đã cho bà T1, nay ông L đồng ý để bà T1 tiếp tục sử dụng không yêu cầu chia. Diện tích còn lại 1.174,1m² trong đó ½ phần của ông L là 587,05m², diện tích còn lại 587,05m² là di sản của bà H1 để lại, ông L được hưởng ¼ là 146,76m². Ông L yêu cầu được nhận toàn bộ diện tích 1.174,1m² đồng ý hoàn giá trị lại các đồng thừa kế khác theo giá của Hội đồng định giá huyện C đã định. Riêng, đối với căn nhà của bà X đang ở trên đất có diện tích 27m², ông L đồng ý cho bà X ở đến hết đời thì trả lại đất cho ông L.
  • - Diện tích đất 1.748m² thuộc thửa 100, tờ bản đồ số 18 loại đất ở nông thôn và cây lâu năm do ông L và bà H1 đứng tên quyền sử dụng đất số H0379 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 07/4/2006; trong đó ½ là phần của ông L 874m² ông L tự nguyện và đồng ý khấu trừ diện tích mà các ông Nhan Ngọc N1 sử dụng diện tích 91,9m² và phần đất cặp ranh là 109,7m²; ông Nhan Hữu Đ và ông Nhan Đại  đang sử dụng diện tích 112,8m²; phần khu mộ có diện tích 3,3m² tổng cộng là 317,7m². Sau khi khấu trừ thì phần ông L còn lại là 556,3m² (874m² - 317,7m²). Phần diện tích 874m² là di sản bà H1 để lại, ông L được hưởng ¼ là 218,5m². Con của ông LT1 yêu cầu được nhận toàn bộ diện tích đất này, nguyên đơn thống nhất. Vì vậy, giao cho bà T1 được sử dụng và bà T1 có nghĩa vụ hoàn giá trị lại cho ông L theo giá của Hội đồng định giá huyện C đã định.

Từ những phân tích trên và theo quy định tại các Điều 609, 610, 611, 612, 613, 623 Bộ luật dân sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa bị đơn ông Trần Văn T trình bày: Yêu cầu những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan hiện đang sử dụng đất lấn ranh của gia đình phải trả lại đất và yêu cầu chia các tài sản là máy móc, đường ray, tời kéo dùng để sữa chữa phương tiện tàu thủy tọa lạc trên phần đất diện tích 1.418m² thuộc thửa 12 tờ bản đồ số 18; yêu cầu chia máy móc, động cơ của xưởng cơ khí nằm trong diện tích đất 1.287m² thuộc thửa 22 tờ bản đồ số 8; yêu cầu chia các cây dừa nằm trong 1.748m² thuộc thửa 100 tờ bản đồ số 18 và 01 sà lan sau khi bà H1 mất thì ông L bán sà làn để chi tiêu cá nhân.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định của pháp luật. Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

  • - Chấp nhận yêu cầu chia thừa kế của ông Trần Văn L.
  • - Ông Trần Văn L được quyền sử dụng diện tích đất 1.159,6m² tại các điểm 1, 2, 3, 4, 5, 27, 16, 17, 8, 9, 10 theo sơ đồ ngày 20/3/2022 của Văn phòng Đ1 chi nhánh C; ông Trần Văn L có nghĩa vụ hoàn lại kỷ phần thừa kế cho bà Trần Thị T1, bà Trần Thị T2 và ông Trần Văn T mỗi người được hưởng là 889.950.000 đồng.
  • - Ông Trần Văn T được quyền sử dụng: Mái che; 04 trụ bơm xăng; 02 bồn chứa xăng dầu loại 10.000 lít; một căn nhà diện tích 245,8m² tại các điểm 24, 25, 30, 35, diện tích xây dựng là 519,4m² (theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ở số 80/NO do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 21/7/2000) và phần đất diện tích đất diện tích 1.361,4m² tại các điểm 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 3 theo sơ đồ ngày 20/3/2022 của Văn phòng Đ1 chi nhánh C; ông Trần Văn T có nghĩa vụ hoàn lại kỷ phần thừa kế và giá trị tài sản cho ông Trần Văn L số tiền là 3.828.202.075 đồng, cho bà Trần Thị T2, Trần Thị T1 mỗi người được hưởng 797.480.415 đồng.
  • - Bà Trần Thị T1 được quyền sử dụng diện tích 1.433,9m² tại các điểm 1, 10, 2, 3, 11, 4, 5, 14, 13, 12, 9, 8 theo sơ đồ ngày 05/12/2023 của Văn phòng Đ1 chi nhánh C. Ông Trần Văn L có nghĩa vụ giao trả cho bà Trần Thị T1 phần đất này; bà Trần Thị T1 có nghĩa vụ hoàn lại kỷ phần thừa kế và giá trị tài sản cho ông Trần Văn L số tiền là 2.684.600.000 đồng; cho bà Trần Thị T2, ông Trần Văn T mỗi người được hưởng 664.000.000 đồng.
  • - Bà Trần Thị T1 được sử dụng phần đất diện tích 100,4m² tại các điểm 15, 16, 17, 20, 21, 22 theo sơ đồ ngày 20/3/2022 của Văn phòng Đ1 chi nhánh C.
  • - Các đương sự có trách nhiệm đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiến hành các thủ tục hành chính về đất đai theo qui định của pháp luật về đất đai.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản. Đây là tranh chấp về thừa kế thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân được quy định tại khoản 5 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại xã L, huyện C, tỉnh An Giang, Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt.

[2]. Về nội dung

2.1. Về hàng thừa kế: Các đương sự thống nhất ông L và bà H1 là vợ chồng và có 3 người con chung là Trần Thị T1, Trần Thị T2Trần Văn T. Bà H1 chết năm 2016 không để lại di chúc.

2.2. Về di sản thừa kế: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn, bị đơn cũng như người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều xác định bà H1 lúc còn sống cùng ông L có tạo dựng số tài sản gồm:

Tài sản thứ nhất: Diện tích đất 1.418m² thuộc thửa 12 tờ bản đồ số 18 loại đất ở nông thôn và cây lâu năm do Trần Văn L đứng tên quyền sử dụng đất số H0380bB do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 07/4/2006 trên đất có một cây xăng (tạm ngưng hoạt động) hiện T đang ở cùng vợ con.

Tài sản thứ hai: Diện tích đất 1.287m² thuộc thửa 22 tờ bản đồ số 8 loại đất ở nông thôn do Trần Văn L và bà Nguyễn Thị H1 đứng tên quyền sử dụng đất số H0378bB do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 07/4/2006; hiện do ông L quản lý.

Tài sản thứ ba: Diện tích đất 1.748m² thuộc thửa 100 tờ bản đồ số 18 loại đất ở nông thôn và cây lâu năm do ông Trần Văn L và bà Nguyễn Thị H1 đứng tên quyền sử dụng đất số H0379bB do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 07/04/2006 do ông L quản lý.

Nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật phần di sản của bà H1 để lại, ông TT1, bà T2 không đồng ý.

2.3. Tòa án đã xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá cụ thể như sau:

Tài sản thứ nhất: Diện tích đất 1.418m² thuộc thửa 12 tờ bản đồ số 18 loại đất ở nông thôn và cây lâu năm do ông Trần Văn L đứng tên quyền sử dụng đất số H0380bB do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 07/4/2006 trên đất có mái che và 04 trụ bơm xăng dầu có diện tích 146,2m² tại các điểm 25, 26, 4, 29, 30 (tạm ngưng hoạt động); một căn nhà của ông L và bà H1 diện tích 245,8m2 tại các điểm 24, 25, 30, 35, diện tích xây dựng là 519,4m² (theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ở số 80/NO do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 21/7/2000) hiện T đang ở cùng vợ con; khu mộ của bà H1 có diện tích 23m² tại các điểm 20, 21, 22, 23; kho (hầm chứa xăng dầu) có diện tích 35,2m² tại các điểm 12, 13, 14, 15; nhà vệ sinh có diện tích 7,4m² tại các điểm 16, 17, 18, 19. Hiện trạng đã xây dựng hàng rào ngăn cách với các hộ tứ cận xung quang; diện tích thực tế còn lại theo đo đạc là 1.361,4m² thiếu 56,6m² tại các điểm 1, 2, 3, 11, 10 hiện phía gia đình ông Hà Văn S (chết) đang sử dụng hiện thực tế đang sử dụng. Qua định giá nhà giá trị sử dụng còn lại 20% nhà có giá 5.314.000đ/m2 x 519,4m² x 20% = 552.018.320đ. Đất ở nông thôn có giá thị trường là 6.000.000đ/m²; đất trồng cây lâu năm có giá thị trường là 2.000.000đ/m²; Mái che trụ bơm xăng có diện tích 146,2m² x 750.000đ x 50% = 54.825.000đ; 04 trụ bơm xăng giá trị sử dụng còn lại 50% trị giá 30.000.000đ/1 trụ; 02 bồn chứa xăng dầu loại 10.000 lít bằng kim loại giá trị sử dụng còn lại 50% trị giá 22.500.000đ/1 bồn.

Tài sản thứ hai: Diện tích đất 1.287m² thuộc thửa 22 tờ bản đồ số 8 loại đất ở nông thôn do Trần Văn L và bà Nguyễn Thị H1 đứng tên quyền sử dụng đất số H0378bB do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 07/4/2006 trên đất có một căn nhà của Trần Thị T1 diện tích 100,4m² tại các điểm 15, 16, 17, 20, 21, 22, mái che diện tích 9,9m² tại các điểm 15, 22, 23, 27; ngoài ra phần căn nhà có diện tích 2,6m² (tại các điểm 17, 18, 19, 20), mái che diện tích 12m² (tại các điểm 23, 24, 26, 27) không thuộc quyền sử dụng đất của ông LH1. Nhà của bà Phạm Thị X có diện tích 27m² tại các điểm 20,21,22, 23, 6, ngoài ra phần căn nhà có diện tích 13m² không thuộc quyền sử dụng đất của ông LH1; phía sau căn nhà của bà T1 và bà X là bãi đóng tàu, mái che có diện tích 102,1m² tại các điểm 13, 14, 15, 16 do ông Trần Văn L quản lý. Đất ở nông thôn có giá thị trường là 6.000.000đ/m²; mái che do ông L quản lý có kết cấu khung sườn bằng gổ thao lao, mái lợp tonl có giá 300.000₫ x 102,1m² x 50% = 15.315.000đ. Nhà của bà T1 có kết cấu móng đà bê tông cốt thép, vách xây tường, nền lát gạch mái lợp tonl, trần tấm nhựa giá trị sử dụng còn lại 50% trị giá 3.544.000đ x 100,4m² x 50% = 177.908.000đ, mái che gắn liện với nhà bà T1 có diện tích 9,9m² giá trị sử dụng còn lại 50% trị giá 300.000₫ x 9,9m² x 50% = 1.485.000đ. Nhà của bà X có kết cấu không đồng bộ móng, cột đà bê tông cốt thép, 01 vách xây tường, 01 vách chung với nhà bà T1 nền lát gạch, mái lợp tonl có giá 3.437.680₫ x 30m² (có diện tích 13m² không thuộc quyền sử dụng đất của ông LH1) x 20% = 20.626.080₫.

Tài sản thứ ba: Diện tích đất 1.748m² trong đó có 454m² là đất thổ cư, 1.294m² là đất trong cây lâu năm thuộc thửa 100 tờ bản đồ số 18 loại đất ở nông thôn và cây lâu năm do Trần Văn L và bà Nguyễn Thị H1 đứng tên quyền sử dụng đất số H0379bB do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 07/04/2006 trên đất có một căn nhà kho dùng để chứa đồ có kết cấu cột bê tông cốt thép, vách gạch mái lợp tonl hiện ông L đang quản lý có diện tích 552,7m² tại các điểm 9, 10, 2, 3, 11, 12; khu mộ có diện tích 3,3m² tại các điểm 30, 31, 32, 35; phần đất vườn ông L đang quản lý diện tích 846,8m² tại các điểm 12, 11, 4, 30, 31, 32, 14, 13. Hiện trạng ông L đã xây dựng tường rào xung quang khu đất có diện tích 1.433,9m² tại các điểm 1, 10, 2, 3, 11, 4, 5, 14, 13, 12, 98; diện tích còn lại thì ông N1 đang sử dụng phần đất ao diện tích 91,9m² tại các điểm 13, 14, 16, 18 và phần đất cặp ranh 109,7m² tại các điểm 9, 12, 13, 18, 17; diện tích 112,8m² ông Đ và ông A đang sử dụng (trong đó ông Nhan Hữu Đ đang sử dụng 17,7m² tại các điểm 19, 20, 21, 22 để cất nhà, ông Nhan Đại  sử dụng diện tích 38m² tại các điểm để cất nhà). Đất ở nông thôn có giá thị trường là 2.000.000đ/m2; đất trồng cây lâu năm có giá thị trường là 6.000.000đ/m2;

2.4. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn rút lại một phần yêu cầu khởi kiện cụ thể:

Diện tích đất 1.418m² thuộc thửa 12 tờ bản đồ số 18 loại đất ở nông thôn và cây lâu năm do Trần Văn L đứng tên quyền sử dụng đất số H0380bB được Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 07/4/2006 trên đất có nhà và cây xăng phần đất đã được xây tường rào xung quang. Yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với nhà đất nêu trên. Đối với phần diện tích 56,6m² hiện phía gia đình ông Hà Văn S (chết) đang sử dụng và phần đất có khu mộ diện tích 23m² thì không tranh chấp đồng ý khấu trừ phần tài sản ông được hưởng.

Diện tích đất 1.287m² thuộc thửa 22 tờ bản đồ số 8 loại đất ở nông thôn do tôi Trần Văn L và bà Nguyễn Thị H1 đứng tên quyền sử dụng đất số H0378bB do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 07/4/2006 trên đất có một căn nhà của con Trần Thị T1 cất trên phần đất này; ngoài ra có 01 căn nhà của bà Phạm Thị X; phía sau căn nhà của bà T1 và bà X là cở sở sửa chữa phương tiện thủy do ông quản lý. Đối với căn nhà của bà T1 trước đây khi bà H1 còn sống thì ông và bà H1 đã tặng cho T1 diện tích đất này nên vợ chồng T1 cất nhà ở như hiện nay. Vì vậy phần đất có căn nhà của bà T1 không còn là di sản của bà H1. Còn lại yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với phần đất có căn nhà của bà X đồng ý để cho bà X ở cho đến hết đời không tranh chấp đồng ý khấu trừ vào phần tài sản ông được hưởng.

Diện tích đất 1.748m² thuộc thửa 100 tờ bản đồ số 18 loại đất ở nông thôn và cây lâu năm do Trần Văn L và bà Nguyễn Thị H1 đứng tên quyền sử dụng đất số H0379bB do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 07/04/2006. Phần đất này đã xây tường rào xung quanh để bảo vệ khu đất nhưng xây không hết phần diện tích được cấp. Nay yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với nhà đất nêu trên. Đối với phần diện tích ông N1 đang sử dụng phần đất ao diện tích 91,9m² và phần đất cặp ranh 109,7m²; phần đất diện tích 112,8m² (trong đó ông Nhan Hữu Đ đang sử dụng 17,7m² để cất nhà, ông N4 Đại Ân sử dụng diện tích 38m² để cất nhà còn lại đất trống) và phần đất khu mộ 3,3m² không tranh chấp đồng ý khấu trừ vào phần tài sản ông được hưởng.

Xét thấy nguyên đơn rút lại một phần yêu cầu không tranh chấp đối với các người lợi nghĩa vụ liên quan đang sử dụng đất và đồng ý khấu trừ vào phần tài sản ông được hưởng. Yêu cầu này của nguyên đơn là phù hợp hội đồng xét xử xem xét khi giải quyết.

2.5. Tại phiên tòa bị đơn ông T có yêu cầu những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan hiện đang sử dụng đất lấn ranh của gia đình phải trả lại đất, quá trình tố tụng bị đơn có yêu cầu này. Tòa án đã ra Thông báo trả lại đơn khởi kiện lý do đây là tranh chấp quyền sử dụng đất nhưng chưa được hòa giải ở cơ sở. Mặc khác, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn ông L đồng ý khấu trừ phần đất mà những người liên quan đang sử dụng lấn chiếm vào phần tài sản riêng của ông L. Như vậy quyền lợi của của các đồng thừa kế vẫn đảm bảo không bị ảnh hưởng. Nên hội đồng xét xử không xem xét yêu cầu này của bị đơn trong vụ án này.

Tại phiên tòa ông T có yêu cầu chia các tài sản là máy móc, đường ray, tời kéo dùng để sữa chữa phương tiện tàu thủy tọa lạc trên phần đất diện tích 1.418m² thuộc thửa 12 tờ bản đồ số 18; yêu cầu chia máy móc, động cơ của xưởng cơ khí nằm trong diện tích đất 1.287m² thuộc thửa 22 tờ bản đồ số 8; yêu cầu chia các cây dừa nằm trong 1.748m² thuộc thửa 100 tờ bản đồ số 18 và 01 sà lan sau khi bà H1 mất thì ông L bán để chi tiêu cá nhân. Xét thấy trong suốt quá trình tố tụng ông T không có yêu cầu chia đối với các tài sản này. Tại phiên tòa mới đưa ra yêu cầu căn cứ khoản 3 Điều 202 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu này của ông T. Nếu có yêu cầu ông T có quyền khởi kiện bằng một vụ án dân sự khác.

2.6. Về chứng cứ: Nguyên đơn xuất trình các giấy xác nhận về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và bản sao giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 80/NƠ do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 21/7/2000 (ông L đang giữ); bị đơn ông T thừa nhận đang giữ giấy chứng nhận diện tích đất 1.287m² thuộc thửa 22 tờ bản đồ số 8 loại đất ở nông thôn do Trần Văn L và bà Nguyễn Thị H1 đứng tên quyền sử dụng đất số H0378bB do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 07/4/2006; diện tích đất 1.748m² thuộc thửa 100 tờ bản đồ số 18 loại đất ở nông thôn và cây lâu năm do Trần Văn L và bà Nguyễn Thị H1 đứng tên quyền sử dụng đất số H0379bB do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 07/4/2006.

Đối với bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích đất 1.418m² thuộc thửa 12 tờ bản đồ số 18 loại đất ở nông thôn và cây lâu năm do Trần Văn L, bà Nguyễn Thị H1 đứng tên quyền sử dụng đất số H0380bB do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 07/4/2006. Tại phiên tòa hôm nay ông L, ông T, bà T1, bà T2 trình bày đều xác định hiện không giữ bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này. Xét thấy đồng thừa kế đều thừa nhận có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau khi nhận giấy quyền sử dụng đất thế chấp từ các tổ chức tín dụng thì bà H1 giữ sau khi bà H1 mất thì hiện nay không biết ai giữ. Việc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hiện đã thất lạc không làm ảnh hưởng đến quyền về thừa kế của các bên nên hội đồng xét xử không xem xét đến.

2.7. Xét thấy, về hàng thừa kế và di sản thừa kế, các đương sự thống nhất hàng thừa kế thứ nhất của bà H1. Bà H1 chết không để lại di chúc. Ông L yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật các đồng thừa kế còn lại không đồng ý. Xét thấy di sản là 03 (ba) quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liên trên đất đã được Tòa án thẩm định và thể hiện bằng các bảng vẽ do Văn phòng đăng ký đất đai cung cấp thì đây là tài sản chung của ông L và bà H1 điều này được các đồng thừa kế của bà H1 xác nhận. Căn cứ Điều 649, Điều 650, Điều 651 Bộ luật dân sự 2015 việc ông L yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật là phù hợp nghĩ nên chấp nhận.

2.8. Về trị giá di sản

2.8.1. Tài sản thứ nhất: Diện tích đất 1.418m² thuộc thửa 12 tờ bản đồ số 18 trong đó 693m² là đất thổ cư, 725m² là đất vườn trên đất có mái che và 04 trụ bơm xăng dầu; một căn nhà của ông L và bà H1 diện tích xây dựng là 519,4m²; 02 bồn chứa xăng dầu. Tài sản này ½ là của ông L, ½ còn lại của bà H1 sẽ được xem xét chia trị giá cụ thể:

Đất thổ cư 693m²: 2 = 346,5m² x giá đất 6.000.000đ/m² = 2.079.000.000đ;

Đất vườn 725m² : 2 = 362,5m² x giá đất 2.000.000đ/m² = 725.000.000đ;

nhà hiện ông T đang quản lý có giá 5.314.000đ/m2 x 519,4m² x 20% = 552.018.320d : 2 = 276.009.160đ;

Mái che trị giá 54.825.000₫ : 2 = 27.412.500đ; 04 trụ bơm xăng 120.000.000₫ : 2 = 60.000.000đ; 02 bồn chứa xăng dầu loại 10.000 lít trị giá 45.000.000₫ : 2 = 22.500.000₫.

Tổng cộng phần di sản của bà H1 hiện ông T đang quản lý trị giá là 3.189.921.660đ. Phần ông T đang quản lý phần tài sản của ông L là 3.189.921.660đ nhưng khấu trừ phần đất mà gia đình ông S đang sử dụng diện tích là 56,6m² x 2.000.000₫ = 159.200.000đ còn lại là 3.030.721.660đ.

2.8.2. Tài sản thứ hai: Diện tích đất 1.287m² thuộc thửa 22 tờ bản đồ số 8 loại đất ở nông thôn hiện ông L đang quản lý. Trong đó đã tặng cho bà T1 diện tích 100,4m² điều này được các đồng thừa kế của bà H1 thừa nhận. Như vậy, di sản của bà H1 còn lại là 1.287m² – 100,4m² = 1.186,6m². Tài sản này ½ là của ông L, ½ còn lại của bà H1 sẽ được xem xét chia trị giá cụ thể:

Diện tích 1.186,6m² : 2 = 593,3m² x giá đất 6.000.000đ = 3.559.800.000₫.

2.8.3. Tài sản thứ ba: Diện tích đất 1.748m² trong đó có 454m² là đất thổ cư, 1.294m² là đất trong cây lâu năm hiện do ông L quản lý. Tài sản này ½ là của bà H1 sẽ được xem xét chia trị giá cụ thể:

Đất thổ cư diện tích 454m² : 2 = 227m² x 6.000.000đ = 1.362.000.000đ.

Đất vườn 1.294m² : 2 = 647m² x giá đất 2.000.000đ = 1.294.000.000₫.

Tổng cộng: 2.656.000.000đ.

Phân nữa còn lại là của ông L trong đó có phần ông N1 đang sử dụng phần đất ao diện tích 91,9m² x 2.000.000đ = 183.800.000đ; phần đất cặp ranh 109,7m² x 2.000.000₫ = 219.400.000đ; phần đất diện tích 112,8m² (trong đó ông Nhan Hữu Đ đang sử dụng 17,7m², ông Nhan Đại  sử dụng diện tích 38m² còn lại đất trống) 112,8m² x 2.000.000₫ = 225.600.000đ và phần đất khu mộ diện tích 3,3m³ x 2.000.000₫ = 6.600.000đ; ông L không tranh chấp đồng ý khấu trừ vào phần ông L được hưởng nên hội đồng xét xử không xem xét đến. Như vậy phần ông L còn lại là 2.656.000.000₫ – 635.400.000đ = 2.020.600.000₫.

Tổng cộng trị giá di sản bà H1 để lại là: 3.189.921.660đ + 3.559.800.000đ + 2.656.000.000đ = 9.405.721.660đ chia làm 4 phần mỗi kỷ phần được hưởng là 2.351.430.415₫.

[2.9] Xét yêu cầu của ông L có yêu cầu được nhận hiện vật đối với kỷ phần thừa kế, Hội đồng xét xử xét thấy, hiện ông L đang quản lý đối với phần đất 1.287m² thuộc thửa 22 tờ bản đồ số 8 hiện làm cơ sở sửa chữa phương tiện thủy. Vì vậy, nghĩ nên giao phần đất này cho ông L tiếp tục sử dụng ông L có nghĩa vụ hoàn lại kỷ phần cho các đồng thừa kế khác cụ thể:

Diện tích 1.287m² thuộc thửa 22 tờ bản đồ số 8 loại đất ở nông thôn hiện ông L đang quản lý. Trên đất có căn nhà của bà T1 và bà X. Đối với căn nhà của bà T1 hiện đang sinh sống cùng gia đình tại phiên tòa hôm nay các bên đều thống nhất khi bà H1 còn sống thì đã cho vợ chồng bà T1 một nền đất và bà T1 đã cất nhà sinh sống cho đến nay. Vì vậy phần đất có căn nhà của bà T1 không còn là di sản của bà H1. Di sản của bà H1 là ½ diện tích 1.287m² - 100,4m² = 1.186,6m² sẽ được xem xét chia trị giá cụ thể: 1.186,6m² : 2 = 593,3m² x giá đất 6.000.000₫ = 3.559.800.000₫ chia làm 4 phần, mỗi kỷ phần được hưởng là 889.950.000đ. Ông L có nghĩa vụ hoàn lại cho bà T1, bà T2 và anh T mỗi người 889.950.000₫.

Đối với căn nhà của bà X diện tích 27m², ông L đồng ý để cho bà X ở cho đến hết đời không tranh chấp. Như vậy, diện tích còn lại ông L được hưởng là 1.287m² - tích 27m² =1.159,6m².

2.10. Phần đất diện tích đất 1.418m² thuộc thửa 12 tờ bản đồ số 18 trên đất có căn nhà, mái che và cây xăng hiện do anh T và gia đình đang sử dụng nghĩ nên tiếp tục giao cho ông T sử dụng. Ông T có nghĩa vụ hoàn lại kỷ phần cho các đồng thừa kế khác cụ thể:

Đất thổ cư 693m²: 2 = 346,5m² x giá đất 6.000.000đ/m² = 2.079.000.000₫;

Đất vườn 725m² : 2 = 362,5m² x giá đất 2.000.000đ/m² = 725.000.000đ;

Căn nhà hiện ông T đang quản lý có giá 5.314.000đ/m2 x 519,4m² x 20% = 552.018.320d : 2 = 276.009.160đ;

Mái che trị giá 54.825.000₫ : 2 = 27.412.500đ; 04 trụ bơm xăng 120.000.000₫ : 2 = 60.000.000đ; 02 bồn chứa xăng dầu loại 10.000 lít trị giá 45.000.000₫ : 2 = 22.500.000₫.

Tổng cộng phần di sản của bà H1 hiện ông T đang quản lý trị giá là 3.189.921.660đ chia làm 4 phần mỗi kỷ phần được hưởng là 797.480.415₫. Phần ông T đang quản lý phần tài sản của ông L là 3.189.921.660đ nhưng khẩu trừ phần đất mà gia đình ông S đang sử dụng diện tích là 56,6m² x 2.000.000đ = 113.200.000đ; phần đất khu mộ diện tích 23m² x 2.000.000đ = 46.000.000đ; tổng cộng là 159.200.000đ. Như vậy, ông T có nghĩa vụ hoàn lại cho ông L số tiền là 3.030.721.660đ.

Ông T có nghĩa vụ hoàn lại cho bà T1, bà T2 mỗi người là 797.480.415₫ và hoàn lại cho ông L kỷ phần ông L được hưởng của bà H1 797.480.415đ và phần tài sản của ông L hiện ông T quản lý trị giá là 3.030.721.660đ, tổng cộng ông T hoàn lại cho ông L số tiền 3.828.202.075₫.

2.11. Đối với phần đất diện tích đất 1.748m² thuộc thửa 100 tờ bản đồ số 18 hiện trạng nhà kho chứa đồ do ông L đang quản lý, bà T1 có yêu cầu được nhận toàn bộ diện tích theo đo đạc thực tế này, bà sẽ hoàn lại kỷ phần hưởng cho các đồng thừa kế khác. Xét thấy yêu cầu này là phù hợp nghĩ nên, giao cho bà T1 được quyền sử dụng diện tích này. Cụ thể, diện tích đất 1.748m² trong đó có 454m² là đất thổ cư, 1294m² là đất trong cây lâu năm. Tài sản này ½ là của bà H1 sẽ được xem xét chia trị giá cụ thể:

Đất thổ cư diện tích 454m² : 2 = 227m² x 6.000.000₫ = 1.362.000.000đ;

Đất vườn 1.294m² : 2 = 647m² x giá đất 2.000.000đ = 1.294.000.000đ;

Tổng cộng phần di sản của bà H1 hiện bà T1 đang quản lý trị giá là 2.656.000.000đ chia làm 4 phần mỗi kỷ phần được hưởng là 664.000.000đ. Bà T1 có nghĩa vụ hoàn cho ông L, ông TT2 mỗi người 664.000.000đ.

Phân nữa còn lại là của ông L trong đó có phần ông N1 đang sử dụng phần đất ao diện tích 91,9m² x 2.000.000₫ = 183.800.000đ; phần đất cặp ranh 109,7m² x 2.000.000₫ = 219.400.000đ; phần đất diện tích 112,8m² (trong đó ông Nhan Hữu Đ đang sử dụng 17,7m², ông Nhan Đại  sử dụng diện tích 38m² còn lại đất trống) 112,8m² x 2.000.000đ = 225.600.000₫ và phần đất khu mộ diện tích 3,3m² x 2.000.000₫ = 6.600.000đ; ông L không tranh chấp đồng ý khấu trừ vào phần ông L được hưởng nên hội đồng xét xử không xem xét đến. Như vậy phần ông L còn lại là 2.020.600.000₫ đây tài tài sản của ông LT1 được giao nên bà T1 có trách nhiệm hoàn lại cho ông L số tiền 2.020.600.000đ.

[3] Về chi phí tố tụng: Chi phí thẩm định, định giá 2.000.000đ, chi phí đo đạc 7.083.780đ, tổng cộng 9.083.780 do ông L tạm nộp. Tại phiên tòa ông L tự nguyện chịu toàn bộ chi phí tố tụng (đã nộp xong).

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; các đương sự phải bàu án phí theo kỷ phần được hưởng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 26, Điều 35, Điều 39, khoản 2 Điều 92, Điều 144, Điều 147, Điều 157, Điều 156, Điều 228, Điều 244 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Các Điều 649, Điều 650, Điều 651, Điều 660 Bộ luật dân sự 2015;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật của ông Trần Văn L.

  1. Ông Trần Văn L được quyền sử dụng phần đất diện tích 1.159,6m² tại các điểm 1, 2, 3, 4, 5, 27, 16, 17, 8, 9, 10 theo sơ đồ hiện trạng khu đất tranh chấp do Văn phòng Đ1 chi nhánh C do vẽ ngày 20/3/2022 thuộc thửa 22 tờ bản đồ số 8 loại đất ở nông thôn do Trần Văn L và bà Nguyễn Thị H1 đứng tên quyền sử dụng đất số H0378bB do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 07/04/2006 hiện do ông Trần Văn L đang quản lý; tọa lạc tại ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang (hiện ông L đang quản lý).
  2. Ông Trần Văn L có nghĩa vụ hoàn lại kỷ phần thừa kế cho bà Trần Thị T1 số tiền là 889.950.000đ.

    Ông Trần Văn L có nghĩa vụ hoàn lại kỷ phần thừa kế cho bà Trần Thị T2 số tiền là 889.950.000đ.

    Ông Trần Văn L có nghĩa vụ hoàn lại kỷ phần thừa kế cho ông Trần Văn T số tiền là 889.950.000đ.

  3. Ông Trần Văn T được quyền sử dụng: Mái che; 04 trụ bơm xăng; 02 bồn chứa xăng dầu loại 10.000 lít; một căn nhà diện tích 245,8m² tại các điểm 24, 25, 30, 35, diện tích xây dựng là 519,4m² (theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ở số 80/NO do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 21/7/2000) và phần đất diện tích đất diện tích 1.361,4m² tại các điểm 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 3 theo sơ đồ hiện trạng khu đất tranh chấp do Văn phòng Đ1 chi nhánh C do vẽ ngày 20/3/2022 thuộc thửa 12 tờ bản đồ số 8 loại đất ở nông thôn và cây lâu năm do Trần Văn L đứng tên quyền sử dụng đất số H0380bB do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 7/04/2006; tọa lạc tại ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang (hiện ông T đang quản lý).
  4. Ông Trần Văn T có nghĩa vụ hoàn lại kỷ phần thừa kế và giá trị tài sản cho ông Trần Văn L số tiền là 797.480.415₫ + 3.030.721.660₫ = 3.828.202.075₫.

    Ông Trần Văn T có nghĩa vụ hoàn lại kỷ phần thừa kế cho bà Trần Thị T1 là 797.480.415₫.

    Ông Trần Văn T có nghĩa vụ hoàn lại kỷ phần thừa kế cho bà Trần Thị T2 là 797.480.415₫.

  5. Trần Thị T1 được quyền sử dụng phần đất diện tích 1.433,9m² tại các điểm 1, 10, 2, 3, 11, 4, 5, 14, 13, 12, 9, 8 theo sơ đồ hiện trạng khu đất tranh chấp do Văn phòng Đ1 chi nhánh C do vẽ ngày 5/12/2023 thuộc thửa 100 tờ bản đồ số 18 loại đất ở nông thôn và cây lâu năm do Trần Văn L và bà Nguyễn Thị H1 đứng tên quyền sử dụng đất số H0379bB do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 07/04/2006, hiện do ông Trần Văn L đang quản lý; tọa lạc tại ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang.
  6. Ông Trần Văn L có nghĩa vụ giao trả cho bà Trần Thị T1 phần đất diện tích 1.433,9m² tại các điểm 1, 10, 2, 3, 11, 4, 5, 14, 13, 12, 9, 8 theo sơ đồ hiện trạng khu đất tranh chấp do Văn phòng Đ1 chi nhánh C do vẽ ngày 5/12/2023 thuộc thửa 100 tờ bản đồ số 18 loại đất ở nông thôn và cây lâu năm do Trần Văn L và bà Nguyễn Thị H1 đứng tên quyền sử dụng đất số H0379bB do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 07/04/2006, hiện do ông Trần Văn L đang quản lý; tọa lạc tại ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang.

    Trần Thị T1 có nghĩa vụ hoàn lại kỷ phần thừa kế và giá trị tài sản cho ông Trần Văn L số tiền là 664.000.000đ + 2.020.600.000đ = 2.684.600.000đ.

    Trần Thị T1 có nghĩa vụ hoàn lại kỷ phần thừa kế cho ông Trần Văn T số tiền là 664.000.000đ.

    Trần Thị T1 có nghĩa vụ hoàn lại kỷ phần thừa kế cho bà Trần Thị T2 là 664.000.000₫.

  7. Trần Thị T1 được sử dụng phần đất diện tích 100,4m² tại các điểm 15, 16, 17, 20, 21, 22 gắn liền với căn nhà có kết cấu móng, cột, đà bê tông cốt thép, vách xây tường, nền lát gạch, mái lợp tonl diện tích 100,4m² tại các điểm 15, 16, 17, 20, 21, 22, mái che diện tích 9,9m² tại các điểm 15, 22, 23, 27 theo sơ đồ hiện trạng khu đất tranh chấp do Văn phòng Đ1 chi nhánh C do vẽ ngày 20/3/2022 thuộc thửa 22 tờ bản đồ số 8 loại đất ở nông thôn do Trần Văn L và bà Nguyễn Thị H1 đứng tên quyền sử dụng đất số H0378bB do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 07/04/2006 hiện do bà T1 đang quản lý; tọa lạc tại ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang.
  8. Ông Trần Văn L, ông Trần Văn T, bà Trần Thị T1 có trách nhiệm đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiến hành các thủ tục hành chính về đất đai theo qui định của pháp luật về đất đai.

    Hiện trạng khu đất tranh chấp Văn phòng đăng ký đất đai - chi nhánh C lập ngày 20/3/2022 và ngày 05/12/2023 là một phần không thể tách rời của bản án này.

Chi phí tố tụng: Chi phí thẩm định, định giá, chi phí đo đạc tổng cộng 9.083.780 do ông Trần Văn L tự nguyện chịu (đã nộp xong).

Án phí DSST:

Ông Trần Văn L phải chịu là 79.028.608đ nhưng được khấu trừ vào tiền tạm nộp án phí 16.740.000 đồng theo biên lai số 0010405 ngày 21 tháng 3 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới. Ông Trần Văn L phải nộp thêm số tiền 62.288.608 đồng.

Ông Trần Văn T phải chịu là 79.028.608₫;

Trần Thị T1 phải chịu là 79.028.608đ;

Trần Thị T1 phải chịu là 79.028.608đ;

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.

Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - Chi cục THADS huyện Chợ Mới;
  • - VKSND huyện Chợ Mới;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thanh Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 215/2023/DS-ST ngày 06/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về tranh chấp chia di sản thừa kế

  • Số bản án: 215/2023/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp chia di sản thừa kế
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/12/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: nguyên đơn yêu cầu chia di sản của vợ để lại
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger