|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN NHƠN TRẠCH TỈNH ĐỒNG NAI |
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
|
Bản án số: 215/2024/HS-ST. Ngày: 06 - 9 -2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngọc Tình.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thanh Phương.
Ông Mai Thanh Minh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Thanh Thảo – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Sơn – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 222/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 234/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Duy T; sinh năm 1987 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; Nơi đăng ký thường trú: Khu Phố S, phường H, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H (đã chết) và bà Lê Thị B (đã chết); gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ ba, chưa có vợ con;
Tiền án: Không;
Tiền sự: Ngày 20/02/2020 bị Công an huyện N xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản, đã đóng phạt vào ngày 28/02/2020;
Bị cáo bị bắt từ ngày 15/02/2024 đến ngày 21/02/2024 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện N (có mặt).
- Bị hại: Anh Dương Văn Ú, sinh năm: 1991 (có mặt).
Nơi đăng ký thường trú: Áp Vĩnh Lạc, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
Nơi tạm trú: Ấp D, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 13/08/2020 tại Công trình F thuộc Công ty M D&C, khu công nghiệp N, huyện N do Công ty TNHH MTV T4 thi công công trình thì do có mâu thuẫn trong việc Dương Văn Ú, sinh năm: 1991, hộ khẩu thường trú: Ấp V, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu là nhân viên giám sát của Công ty M D&C tự ý điều khiển xe máy ủi của Nguyễn Duy T, sinh năm: 1987; hộ khẩu thường trú: Khu phố S, phường H, thị xã P, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu là công nhân Công ty TNHH MTV T4 nên khi Dương Văn Ú đang làm việc thì Nguyễn Duy T đã cầm theo 01 cây sắt phi 12, dài khoảng 1,2 mét đến gặp Ú hỏi “Mày chạy xe ủi tao phải không”, Ú trả lời “Dạ anh lúc trưa xe Container bị lún”. Lúc này, T cầm cây sắt phi 12 lao đến đánh nhiều cái vào tay trái và đỉnh đầu Ú. Út lấy nón bảo hộ đang đội trên đầu ném vào người T nhưng không trúng. Ú dùng tay phải chụp lấy cây sắt phi 12 T đang cầm ném xuống đất thì T dùng tay siết cổ Ú. Thấy vậy, Võ Xuân T1, sinh năm: 1995; hộ khẩu thường trú: Thôn Đ, xã L, huyện L, tỉnh Quảng Bình và Nguyễn Văn T2, sinh năm: 1975; hộ khẩu thường trú: Thôn V, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình lao vào can ngăn. T lại cầm lấy 01 cây sắt phi 20, dài khoảng 0,7 m chỉ vào T3, T2 chửi “Mày muốn binh nó không” rồi T cầm cây sắt phi 20 ném vào người Ú, Ú dùng tay phải gạt ra. Sau đó, Dương Văn Ú được đưa đến Bệnh viện Đ khám sơ cứu ban đầu và chuyển viện, điều trị nội trú tại Bệnh viện S. Đến ngày 24/08/2020, Dương Văn Ú đến Đồn công an khu công nghiệp N trình báo sự việc. Đồn công an khu công nghiệp N đã lập hồ sơ ban đầu và chuyển giao hồ sơ cho Cơ quan CSĐT Công an huyện N thụ lý, điều tra theo thẩm quyền. Sau khi xảy ra sự việc, Nguyễn Duy T đã nghỉ việc tại Công ty TNHH MTV T4 và bỏ trốn khỏi địa phương. Ngày 15/02/2024, Nguyễn Duy T bị bắt theo quyết định truy nã số 04/QĐ-CSĐT-ĐTTH ngày 09/06/2021 Cơ quan CSĐT Công an huyện N.
Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 0829/Tgt/2020 ngày 23/9/2020 của Trung tâm pháp y Sở Y kết luận:
- + Cho gãy mỏm khuỷu tay trái đã được phẫu thuật kết hợp xương hiện cẳng tay trái gấp duỗi được trong khoảng 50 đến 145° (áp dụng chương 7, mục IV.3.2.1). Tỷ lệ: 13%.
- + Sẹo vết thương nối liền vết mổ vùng khuỷu trái hình dấu hỏi kích thước 9,5x 0,3 cm (áp dụng Chương 8, mục I.2). Tỷ lệ: 02%.
- + Sẹo mổ dẫn lưu khuỷu tay trái kích thước 0,7x0,5 cm (áp dụng Chương 8, mục I.1). Tỷ lệ: 01 %.
2
Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Dương Văn Ú – 1991 áp dụng theo phương pháp cộng tại thông tư là: 16 % (Mười sáu phần trăm).
Vật gây thương tích: Vật tày có cạnh.
Tại cáo trạng số 161/CT-VKSLT ngày 05 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch đã truy tố bị cáo Nguyễn Duy T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Duy T từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu tiêu hủy: 01 cây sắt phi 12 dài 1,2 mét, 01 cây sắt phi 20 dài 70cm là công cụ dùng để phạm tội.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét.
Tại phiên Tòa bị cáo không phát biểu tranh luận, bị cáo nói lời nói sau cùng bị cáo ăn năn, hối cải, xin lỗi bị hại và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, điều tra viên, Viện kiểm sát, kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi cũng như quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Về tài liệu, chứng cứ được thu thập: Vào ngày 09/8/2024, Hội đồng xét xử đã trả hồ sơ điều tra bổ sung số 19/2024/HSST- QĐ cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch để thu thập lại toàn bộ tài liệu có trong hồ sơ từ bút lục số 33 đến bút lục số 82 theo đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuy nhiên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch có công văn số 594/CV-VKS-NT giữ nguyên quan điểm. Xét các tài liệu từ bút lục số 33 đến bút lục số 82 có vi phạm về thủ tục tố tụng, tuy nhiên không ảnh hưởng đến việc định tội bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ để xét xử.
3
[2] Về chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như phần nội dung vụ án đã tóm tắt nêu trên, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, kết luận giám định và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Thể hiện, vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 13/8/2020, tại Công trình F thuộc Công ty M D&C, khu công nghiệp N, huyện N, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Duy T đã dùng hung khí là cây sắt phi 12 dài 1,2 mét đánh nhiều cái vào cánh tay trái và đỉnh đầu của bị hại gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 16%. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi nêu trên của bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến quyền được bảo hộ về sức khoẻ của công dân, gây mất trật tự trị an xã hội trên địa bàn. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ khả năng nhận thức hành vi của mình là sai trái, nguy hiểm cho xã hội. Song vì coi thường pháp luật, không kiềm chế được bản thân nên bị cáo đã thực hiện hành vi gây thương tích cho người khác. Lỗi của bị cáo trong vụ án là lỗi cố ý trực tiếp, do vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đã thực hiện. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã bỏ trốn khỏi địa phương gây khó khăn cho quá trình điều tra, truy tố. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải có một hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Do đó, việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo cũng như đáp ứng mục đích đấu tranh phòng ngừa tội phạm trên địa bàn là cần thiết.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đồng thời bị hại có đơn đề nghị xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại có đơn xin bãi nại và không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nên hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về xử lý vật chứng: 01 cây sắt phi 12 dài 1,2m và 01 cây sắt phi 20 dài 70cm là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu để tiêu hủy.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Xét quan điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
4
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. - Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Duy T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy T 02 (hai) năm (06) sáu tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15 tháng 02 năm 2024. - Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 cây sắt phi 12 dài 1,2m và 01 cây sắt phi 20 dài 70cm.
(Vật chứng này hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Nhơn Trạch theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 10/7/2024). - Về án phí: Bị cáo Nguyễn Duy T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Ngọc Tình |
5
Bản án số 215/2024/HS-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 215/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Duy Thắng Cố ý gây TT
