|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 215/2023/HS-ST Ngày: 03-11-2023 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
-
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Nhung.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Nguyễn Kim Lý;
- Bà Nguyễn Thị Thắm.
Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vui – Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 203/2023/TLST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 189/2023/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2023, đối với các bị cáo:
1. Dương Thái N, sinh năm 1994 tại tỉnh Cà Mau; hộ khẩu thường trú: Ấp I, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau; chỗ ở: Tổ E, ấp A, xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 01/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Dương Văn C, sinh năm 1966 và bà Dương Thị H, sinh năm 1956; có 03 anh em, lớn nhất sinh năm 1991, nhỏ nhất là bị cáo.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 24/4/2020, bị Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm 08 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đối với hành vi thực hiện ngày 20/8/2019, chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/3/2021, chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 06/8/2020.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/5/2023.
Bị cáo có mặt tại phiên toà.
2. Thái Phúc K, sinh năm 2004 tại tỉnh Cà Mau; hộ khẩu thường trú: Ấp B, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau; chỗ ở: Áp A, xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Thái Văn D, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1972; có 02 chị em, lớn sinh năm 1999, nhỏ là bị cáo.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 15/9/2019, bị Công an thị xã C, tỉnh Bình Dương xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Tuy nhiên, Công an thị xã C, tỉnh Bình Dương không giao Quyết định xử phạt cho bị cáo.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/5/2023.
Bị cáo có mặt tại phiên toà.
3. Trương Thanh P, sinh năm 2000 tại tỉnh Bạc Liêu; hộ khẩu thường trú: Ấp T, xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu; chỗ ở: Tổ D, ấp A, xã P, thị xã B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trương Thanh G, sinh năm 1977 và bà Trần Phước X, sinh năm 1979; có 02 anh em, lớn là bị cáo, nhỏ sinh năm 2008.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/5/2023.
Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Người làm chứng: Trần Thanh S, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Dương Thái N, Trương Thanh P và Thái Phúc K có quan hệ quen biết nhau và là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy đá (ma túy loại Methamphetamine).
Trưa ngày 01/5/2023, N thuê xe mô tô chở đi đến khu vực vòng xoay Miếu Ô thuộc thành phố T, tỉnh Bình Dương gặp người đàn ông tên T (không rõ lai lịch) mua được 02 đoạn ống hút nhựa hàn kín chứa ma túy đá với giá 200.000 đồng và 01 nỏ thủy tinh, rồi đi đến phòng trọ số 03 nhà T thuộc ấp A, xã A, thị xã B của Thái Phúc K thuê ở. Khoảng 17 giờ cùng ngày, N đến nơi thì rủ K sử dụng ma túy, N nói K lấy rửa vỏ chai nước ngọt Sting để làm dụng cụ sử dụng ma túy, rồi N lấy 01 đoạn ống hút nhựa chứa ma túy đổ hết vào bộ dụng cụ để cùng K sử dụng. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, N gọi điện thoại rủ Trần Thanh S đến phòng trọ của K để sử dụng ma túy thì S đồng ý. Khoảng 15 phút sau, S đi đến sử dụng hết số ma túy trong bộ D1 sử dụng ma túy cùng với N và K.
Đến 10 giờ ngày 02/5/2023, N lấy đoạn ống hút nhựa chứa ma túy còn lại đổ hết ma túy vào bộ D1, sử dụng một mình nhưng không hết. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, N thấy S thức dậy thì lấy bộ dụng cụ còn ma túy đưa cho S sử dụng nhưng vẫn không hết. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, K thức dậy thì N tiếp tục lấy bộ dụng cụ đang còn ma túy đem ra cùng K và S sử dụng hết.
Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, N đi ra phía trước nhà trọ mượn điện thoại của người đi đường (không rõ lai lịch) rồi gọi điện thoại nhờ Trương Thanh P đi mua 500.000 đồng ma túy đá. P đồng ý và P sử dụng điện thoại di động hiệu OPPO A35 màu xanh gọi điện qua mạng xã hội Z cho người đàn ông tên Q (không rõ lai lịch) hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá thì Q hẹn P đi đến đoạn đường B thuộc khu vực phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương gặp người phụ nữ tên N1 (không rõ lai lịch) để mua ma túy. Khoảng 17 giờ, P đi bộ đến phòng trọ của K thì N đưa 500.000 đồng và giao xe mô tô biển số 61FE – 6163 cho P đi mua ma túy. Lúc này, P rủ K đi chơi thì K biết rõ P đi mua ma túy đá giúp N nhưng vẫn ngồi lên xe để P điều khiển chở đi. Khi đến điểm hẹn, K đứng chờ ở đầu đường hẻm, còn P điều khiển xe vào trong hẻm gặp N1 mua được 03 gói nylon hàn kín và 01 túi nylon miệng kéo dính chứa ma túy đá với giá 500.000 đồng. Sau đó, P quay trở ra giao xe cho K chở về. Khi về đến khu vực ngã tư Ông L thuộc phường T, thị xã B thì P chuyển sang điều khiển xe chở K về phòng trọ của K. Đến nơi, P đưa hết ma túy mua được cho N cất giấu vào trong hộp nhựa màu trắng để dưới nệm trong phòng trọ. Đến khoảng 18 giờ ngày 02/5/2023, lực lượng Công an xã A đến kiểm tra hành chính phòng trọ số C nhà T phát hiện bộ dụng cụ sử dụng ma túy. Sau đó, lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy Công an thị xã B khám xét khẩn cấp phòng trọ số 03 nhà trọ T, thu giữ: 03 gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng (M2), 01 túi nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng (M1) của Thái Phúc K, 01 xe mô tô biển số: 61FE – 6163, số khung: VPDPCG0021H003037, số máy: 1P52FMH310383037 của Dương Thái N và 01 điện thoại di động hiệu OPPO A35 màu xanh không gắn sim số của Trương Thanh P.
Tại Cơ quan điều tra Công an thị xã B, Thái Phúc K, Dương Thái N, Trương Thanh P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Theo Kết luận giám định số 250/KL-KTHS ngày 12/5/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh B, kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng, gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, khối lượng: 2,4363gam (M1), 0,4059 gam (M2). Mẫu vật sau giám định được niêm phong, khối lượng: 2,3521 gam (M1), 0,3634 gam (M2).
Đối với xe mô tô gắn biển số: 61FE – 6163, Nguyên khai mượn của người tên K1 (không rõ lai lịch). Qua kết quả tra cứu, xác minh:
- - Biển số xe do ông Lê Văn C1 (sinh năm 1964, hộ khẩu thường trú: Ấp B, xã P, thị xã B, tỉnh Bình Dương) đứng tên đăng ký. Hiện ông Lê Văn C1 vẫn đang sử dụng xe mô tô biển số: 61FE - 6163.
- - Số khung: VPDPCG0021H003037, số máy: 1P52FMH310383037 không đổi và không tìm thấy người đứng tên đăng ký.
Ngày 02/6/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Trần Thanh S số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
Tại bản Cáo trạng số 221/CT-VKSBC ngày 18/10/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương:
- - Truy tố bị cáo Dương Thái N về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- - Truy tố bị cáo Thái Phúc K về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b, d khoản 2 Điều 256 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- - Truy tố bị cáo Trương Thanh P về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát trong phần tranh luận, giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Dương Thái N mức án từ 08 năm đến 09 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung từ 10 năm 06 tháng đến 12 năm tù.
- - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm b, d khoản 2 Điều 256; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Thái P1 Khang mức án từ 08 năm đến 09 năm tù về tội “Chứa chấp sử dụng trái phép chất ma tuý” và từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung từ 10 năm 06 tháng đến 12 năm tù.
- - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Trương Thanh P mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- - Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng các Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên:
- + Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 xe mô tô số khung: VPDPCG0021H003037, số máy: 1P52FMH310383037 gắn biển số : 61FE – 6163; 01 điện thoại di động hiệu OPPO A35 màu xanh không gắn sim số.
- + Tịch thu tiêu hủy: 2,7155 gam ma túy loại Methamphetamine và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy.
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi đúng như nội dung Cáo trạng truy tố, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
Các bị cáo không bào chữa, không có tranh luận gì với đại diện Viện Kiểm sát. Các bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã đảm bảo thực hiện đúng và đầy đủ.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:
[2.1] Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy đã có đủ cở sở để kết luận: Ngày 01/5/2023, bị cáo Dương Thái N có hành vi mua ma túy loại Methamphetamine đem đến phòng trọ số 3 nhà T thuộc ấp A, xã A, thị xã B, nơi bị cáo Thái Phúc K thuê ở rồi cùng với K và Trần Thanh S do N gọi đến sử dụng 05 lần hết số ma túy mua được trong khoảng thời gian từ 17 giờ ngày 01/5/2023 đến 14 giờ ngày 02/5/2023.
Chiều ngày 02/5/2023, bị cáo N có hành vi nhờ bị cáo Trương Thanh P đi mua ma túy để sử dụng. Khi đi, bị cáo P rủ bị cáo K cùng đi mua ma túy về đưa cho N. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, lực lượng Công an khám xét khẩn cấp, phát hiện thu giữ được 2,8422 gam ma túy loại Methamphetamine của N cất giấu trong phòng trọ do bị cáo K thuê ở.
[2.2] Xét các bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Về nhận thức, các bị cáo hoàn toàn biết ma tuý là loại độc dược gây nghiện do Nhà nước độc quyền quản lý, nghiêm cấm các hoạt động sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép, tổ chức sử dụng, chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy. Nhưng vì mục đích thỏa mãn cơn nghiện của bản thân và có tiền tiêu xài nên các bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, bất chấp hậu quả.
[2.3] Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của các bị cáo; hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý của bị cáo N, hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý của bị cáo K là nguy hiểm cho xã hội. Ma túy là một loại chất độc gây ra tác hại rất lớn về nhiều mặt cho xã hội, làm ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và cũng là mầm mống lan truyền căn bệnh của xã hội như HIV,... Ma túy còn là nguyên nhân dẫn đến những loại tội phạm khác.
[2.4] Hành vi của bị cáo Dương Thái N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; hành vi của bị cáo Thái Phúc K đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm b, d khoản 2 Điều 256 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; hành vi của bị cáo Trương Thanh P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Như vậy, bản Cáo trạng số 221/CT-VKSBC ngày 18/10/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố đối với các bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[3.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
[4] Xét các bị cáo Dương Thái N và Thái Phúc K có nhân thân xấu:
Ngày 24/4/2020, bị cáo N bị Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm 08 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đối với hành vi thực hiện ngày 20/8/2019, chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/3/2021, chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 06/8/2020.
Ngày 15/9/2019, bị cáo K bị Công an thị xã C, tỉnh Bình Dương xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Tuy nhiên, Công an thị xã C, tỉnh Bình Dương không giao Quyết định xử phạt cho bị cáo nên bị cáo chưa nộp phạt vì vậy không có căn cứ xác định tiền sự đối với bị cáo.
[5] Xét về tính chất và mức độ phạm tội của từng bị cáo trong hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy: Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với vai trò đồng phạm giản đơn với vai trò của từng bị cáo là khác nhau. Trong đó bị cáo N là người đề xuất, nhờ bị cáo P đi mua ma túy. Bị cáo P là người trực tiếp đi mua ma túy, bị cáo K không trực tiếp nhưng đi cùng với bị cáo P mua ma túy về đưa cho bị cáo N.
[6] Do đó, Hội đồng xét xử cần xử phạt các bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo nhằm cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục cho các bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.
[7] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về tội danh, điều khoản áp dụng và mức hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo P và bị cáo N là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Riêng mức hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo K là chưa phù hợp nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo K thấp hơn mức đề nghị.
[8] Đối với hành vi bán ma túy của 02 đối tượng tên T và Q hiện không rõ nhân thân, lai lịch. Kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B tiếp tục điều tra, làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật.
[9] Về xử lý vật chứng:
[9.1] Đối với các vật chứng gồm: Khối lượng ma túy hoàn lại sau giám định là 2,7155 gam ma túy loại Methamphetamine là chất thuộc danh mục các chất ma túy do Nhà nước cấm tàng trữ; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy là công cụ sử dụng vào việc phạm tội, không có giá trị sử dụng. Cần áp dụng quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 để tuyên tịch thu và tiêu hủy.
[9.2] Đối với: Xe mô tô số khung: VPDPCG0021H003037, số máy: 1P52FMH310383037 gắn biển số: 61FE – 6163 thu giữ của bị cáo N; 01 điện thoại di động hiệu OPPO A35 màu xanh không gắn sim số là tài sản thu giữ của bị cáo P. Xét đây là tài sản các bị cáo sử dụng làm phương tiện phục vụ cho việc phạm tội. Xe mô tô nêu trên đã hết thời gian thông báo tìm kiếm thông tin chủ phương tiện nhưng không có kết quả. Vì vậy cần áp dụng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu sung vào ngân sách nhà nước đối với các tài sản này.
[10] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 136, Điều 260, khoản 1 Điều 268, Điều 269 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Dương Thái N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
Tuyên bố bị cáo Thái Phúc K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý”.
Tuyên bố bị cáo Trương Thanh P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về điều khoản áp dụng và mức hình phạt:
2.1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Dương Thái N 03 (ba) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Dương Thái N 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng Điều 55 của của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Dương Thái N phải chấp hành hình phạt chung là 11 (mười một) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 03/5/2023.
2.2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Thái Phúc K 03 (ba) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm b, d khoản 2 Điều 256; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Thái Phúc K 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý".
Áp dụng Điều 55 của của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Thái Phúc K phải chấp hành hình phạt chung là 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 03/5/2023.
2.3. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Trương Thanh P 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 03/5/2023.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
- - Tuyên tịch thu tiêu hủy:
- + 01 (một) Bì thư niêm phong ghi số 250/PC09 có hình dấu đỏ của Phòng K2 Công an tỉnh B, bên trong có chứa 2,7155 gam ma túy loại Methamphetamine;
- + 01 (một) Bộ dụng cụ sử dụng ma túy.
- - Tuyên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước:
- + 01 (một) Xe mô tô số khung: VPDPCG0021H003037, số máy: 1P52FMH310383037 gắn biển số: 61FE – 6163;
- + 01 (một) Điện thoại di động hiệu Oppo A35 màu xanh.
(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 23/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương)
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 1 Điều 21, khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đỗ Thị Nhung |
Bản án số 215/2023/HS-ST ngày 03/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự (tàng trữ, tổ chức sử dụng, chứa chấp trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 215/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ, Tổ chức sử dụng, Chứa chấp trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Dương Thái Nguyên phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Tuyên bố bị cáo Thái Phúc Khang phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý”. Tuyên bố bị cáo Trương Thanh Phú phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
