Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 215/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 03-7-2024

V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Duyên

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Thiều Thị Phi Loan

Ông Trần Văn Chánh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Hoàng Long – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa: Bà Trần Thị Thủy – Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 1146/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 176/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12/6/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Dương Kim A, sinh năm 1984;

HKTT: 521/87/4, khu phố A, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Địa chỉ: Căn hộ S, chung cư J, phường P, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Ông Đỗ Nguyên Q, sinh năm 1981;

Địa chỉ: 5, khu phố A, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

(Bà A, ông Q có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản khai, biên bản hòa giải tại Tòa án, nguyên đơn – Bà Dương Kim A, trình bày:

Bà và ông Q tìm hiểu và đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai ngày 20/10/2003. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Quá trình chung sống, vợ chồng hạnh phúc thời gian đầu sau đó thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không còn hòa hợp, yêu thương nhau. Bà và ông Q đã sống ly thân từ tháng 02/2023 cho đến nay. Nay, bà xác định tình cảm không còn, hôn nhân không đạt được mục đích nên xin ly hôn với ông Đỗ Nguyên Q.

Về con chung: Bà và ông Q có 01 con chung tên Đỗ Nguyên C, sinh ngày 09/10/2004. Hiện tại cháu C đã trưởng thành, có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo bản khai, biên bản hòa giải tại Tòa án, bị đơn – Ông Đỗ Nguyên Q trình bày:

Ông và bà A tìm hiểu và đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai ngày 20/10/2003. Quá trình chung sống, vợ chồng ông có phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống nhưng ông xác định vẫn còn tình cảm với vợ nên không đồng ý ly hôn với bà A. Ông muốn vợ chồng đoàn tụ để cùng nhau nuôi dạy con cái.

Về quan hệ hôn nhân: Ông không đồng ý ly hôn với bà A.

Về con chung: Ông và bà A có 01 con chung tên Đỗ Nguyên C, sinh ngày 09/10/2004. Hiện tại cháu C đã trưởng thành, có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những tham gia tố tụng: Thực hiện đúng theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Dương Kim A; về con chung, về tài sản chung và về nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết; về án phí: Bà Dương Kim A phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về quan hệ pháp luật: Bà Dương Kim A khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Đỗ Nguyên Q. Căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xác định quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp ly hôn”. Căn cứ vào Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự xác định bà Dương Kim A là nguyên đơn, ông Đỗ Nguyên Q là bị đơn.
  2. Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn ông Đỗ Nguyên Q hiện đang cư trú tại phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
  3. Về quan hệ hôn nhân: Bà Dương Kim A và ông Đỗ Nguyên Q tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai ngày 20/10/2003, trên cơ sở hôn nhân tự nguyện nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp theo các Điều 9, 11, 12 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.

Xét yêu cầu xin ly hôn của bà A là có cơ sở chấp nhận vì:

Theo quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, vợ chồng có nghĩa vụ sống chung, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng xây dựng gia đình hạnh phúc. Thực tế, theo như bà A trình bày, quá trình chung sống, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã do bất đồng quan điểm và tính cách, không còn tôn trọng lẫn nhau. Bà A và ông Q cũng đã sống ly thân từ tháng 02/2023 cho đến nay. Bà A nhận thấy cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn nên bà xin được ly hôn với ông Q.

Ông Q trình bày tại bản tự khai và tại phiên hòa giải thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tuy nhiên, ông xác định vẫn còn tình cảm với vợ nên không đồng ý ly hôn, ông mong muốn vợ chồng đoàn tụ để cùng nhau nuôi dạy con cái.

Tòa án đã tiến hành xác minh mâu thuẫn vợ chồng giữa bà A và ông Q. Theo biên bản xác minh mâu thuẫn ngày 03/6/2024 thể hiện, địa phương không biết thông tin mâu thuẫn vợ chồng do bà A, ông Q không trình báo với địa phương hay yêu cầu địa phương giải quyết mâu thuẫn vợ chồng.

Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa bà A và ông Q đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Tòa án đã tiến hành hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng bà A vẫn kiên quyết muốn ly hôn với ông Q. Cả hai đều không chủ động hòa giải, giải quyết dứt điểm mâu thuẫn để vợ chồng đoàn tụ cùng nhau nuôi dạy con cái. Bà A và ông Q đã không còn quan tâm, chăm sóc nhau, cả hai không có biện pháp gì để hàn gắn lại thể hiện ở việc ông bà đã sống ly thân từ tháng 02/2023 cho đến nay. Do đó, Tòa án căn cứ vào các điều 51, 54, 56, 57, 58 và Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận cho bà Dương Kim A được ly hôn với ông Đỗ Nguyên Q.

  1. Về con chung: Bà A và ông Q đều xác định trong quá trình chung sống, hai người có 01 con chung tên Đỗ Nguyên C, sinh ngày 09/10/2004. Hiện tại cháu C đã trưởng thành và có khả năng lao động, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
  2. Về tài sản chung: Bà A và ông Q xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
  3. Về nợ chung: Bà A và ông Q khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
  4. Về án phí: Bà Dương Kim A phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
  5. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 205; Điều 207; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 235; Điều 238 và Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Áp dụng các điều 9, 11, 12 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000;

Áp dụng các điều 51, 54, 56, 57, 58 và Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Dương Kim A.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Dương Kim A được ly hôn với ông Đỗ Nguyên Q.
  2. Về con chung: Không xem xét, giải quyết.
  3. Về tài sản chung: Không xem xét, giải quyết.
  4. Về nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
  5. Về án phí: Bà Dương Kim A phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định. Trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí bà A đã nộp theo biên lai thu số 0003548 ngày 26/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, bà A đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Bà Dương Kim A và ông Đỗ Nguyên Q được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận

  • Toà án tỉnh Đồng Nai;
  • Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa;
  • Chi cục Thi hành án dân sự TP. Biên Hòa;
  • Các đương sự;
  • UBND nơi đăng ký kết hôn;
  • Lưu VP - HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Hồng Duyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 215/2024/HNGĐ-ST ngày 03/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 215/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Dương Kim A + Đỗ Nguyễn Q - Tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger