TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 215/2025/HS-ST Ngày: 15/4/2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Bảy
Các Hội thẩm nhân dân: Ông: Nguyễn Văn Năm
Bà: Vương Thị Khánh Loan
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: ông Võ Hồng Toàn- Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 199/2025/TLST-HS ngày 19 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 198/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Văn K
Tên gọi khác: Không
Giới tính: Nam
Sinh năm: 2002.
Nơi cư trú: không có nơi cư trú ổn định (Nơi đăng ký thường trú: thôn N, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa)
Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không
Trình độ học vấn: lớp 7/12
Nghề nghiệp: Không
Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không
Họ tên cha: Nguyễn Thành T - sinh năm 1979 (còn sống).
Họ tên mẹ: Nguyễn Thị L - sinh năm 1981 (còn sống).
Họ tên em: Nguyễn Văn T1 - sinh năm 2004.
Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con lớn nhất, có vợ là Nguyễn Thị N (sinh năm 2001) và có 01 con sinh năm 2024.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị bắt tạm giam ngày 01/01/2025 theo lệnh bắt bị cáo để tạm giam số 2656/LB-ĐTTH ngày 20/12/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực B. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Bị hại: chị Nguyễn Thị C. Hộ khẩu thường trú: xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau Tiên.
Nơi ở hiện tại: số D, tổ A, khu phố F, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn K và chị Nguyễn Thị Cẩm T2, ngụ xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau ở trọ gần nhau tại dãy phòng trọ số D, tổ A, khu phố F, phường L, thành phố B. Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 24/06/2022, K được bà Nguyễn Thị L1, ngụ tại xóm A, thôn A, xã P, huyện T, tỉnh Bình Thuận (bà L1 là gì ruột của bạn gái K) nhờ chở ra Bến xe B để đón xe về quê nên K đã sang phòng trọ của chị T2 để mượn xe mô tô. Khi K sang phòng trọ của chị T2 thì gặp chị T2 và anh Đinh Văn T3, ngụ tại ấp T, thị trấn C, huyện P, tỉnh Cà Mau là bạn trai của chị T2 nên K hỏi chị T2 cho mượn xe mô tô để chở người thân ra bến xe, do tin tưởng K nên chị T2 đã giao xe mô tô hiệu Honda Winner X, biển số 69K1-397.24 cho K mượn. Sau khi mượn được xe mô tô trên, K đã nảy sinh ý định chiếm đoạt xe để sử dụng, nên K về phòng thu dọn đồ đạc rồi điều khiển xe chở bà L1 đi về thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Sau đó, K thuê phòng trọ tại phường B, thành phố P để ở và cất giấu xe mô tô trên. Khoảng 22 giờ cùng ngày, do không thấy K đem xe về trả nên chị T2 đã gọi điện thoại cho K thì K nhắn tin lại cho chị T2 nói dối là mượn xe vài tuần rồi sẽ trả nhưng chị T2 không đồng ý nên K đã chặn số diện thoại của chị T2 để chị T2 không liên lạc được. Đến ngày 27/06/2022, chị T2 đến Công an phường B, thành phố P, tỉnh Bình Thuận để trình báo việc bị K chiếm đoạt xe mô tô nên Công an phường B đã mời K đến làm việc, lúc này K vẫn không trả lại xe mô tô trên cho chị T2 và K tiếp tục nói dối rằng anh Đinh Văn T3 đã bán xe mô tô của chị T2 cho K nên Công an phường B đã lập hồ sơ chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xác minh, làm rõ. Ngày 01/01/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã bắt tạm giam Nguyễn Văn K để điều tra, xử lý về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
*Vật chứng của vụ án:
- + 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Winner X, biển số 69K1-397.24 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho chị Nguyễn Thị Cẩm T2.
Tại bản kết luận định giá số 2319/KL-HĐĐGTS ngày 05/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: “01 (một) xe mô tô hiệu Honda Winner X, biển số 69K1-397.24 trị giá 44.800.000 đồng (Bốn mươi bốn triệu tám trăm nghìn đồng)."
Về trách nhiệm dân sự:
- + Nguyễn Văn K đã bồi thường cho chị Nguyễn Thị Cẩm T2 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) và chị T2 không có yêu cầu gì khác.
Tại bản Cáo trạng số 225/CT-VKSBH ngày 14/03/2025 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn K về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố và đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K từ 18 tháng đến 24 tháng tù. Trước khi phiên tòa diễn ra, bị cáo và gia đình đã bồi thường đủ cho chị T2 số tiền 5.000.000 đồng, chị T2 không yêu cầu bồi thường gì thêm nên về bồi thường dân sự đã giải quyết xong nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của bị cáo tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, đồng ý với lời luận tội của Kiểm sát viên và không có ý kiến tranh luận gì. Bị cáo chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa bị cáo K đã thừa nhận: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 22/06/2022, tại dãy phòng trọ số D, tổ A, khu phố F, phường L, thành phố B.. Nguyễn Văn K được chị T2 cho mượn xe mô tô hiệu Honda Winner X, biển số 69K1-397.24 để chở người thân ra bến xe, sau đó K nảy sinh ý định chiếm đoạt xe để sử dụng. Như vậy, bị cáo Nguyễn Văn K đã phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 175 của Bộ luật hình sự.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo, lời khai của người bị hại, các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Hành vi phạm tội của bị cáo K đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự. Đúng như Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, nên cần xử phạt bị cáo một mức án đủ nghiêm để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, sống tôn trọng pháp luật, đồng thời còn nhằm răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tích cực tự nguyện bồi thường thiệt hại, bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải, bị hại có đơn bãi nại cho bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không
[6] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.
[7]Về dân sự: Theo bản kết luận định giá số 2319/KL-HĐĐGTS ngày 05/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: “01 (một) xe mô tô hiệu Honda Winner X, biển số 69K1-397.24 trị giá 44.800.000 đồng (Bốn mươi bốn triệu, tám trăm nghìn đồng). Trước khi phiên tòa diễn ra, bị cáo đã bồi thường cho chị Nguyễn Thị Cẩm T2 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) và chị T2 không có yêu cầu gì khác. Như vậy bị cáo đã thực hiện xong nghĩa vụ bồi thường cho chị T2.
Vật chứng của vụ án: 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Winner X, biển số 69K1-397.24 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho chị Nguyễn Thị Cẩm T2.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản".
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 175; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù, tính từ ngày 01/01/2025.
Về xử lý vật chứng: Không có
Về trách nhiệm dân sự: Không có
Về án phí: Áp dụng Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo K phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn K có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại chị Nguyễn Thị Cẩm T2 vắng mặt, được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) Phạm Thị Bảy |
Bản án số 215/2025/HS-ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự - lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 215/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 22/06/2022, tại dãy phòng trọ số 43, tổ 15, khu phố 6, phường Long Bình, thành phố Biên Hoà.. Nguyễn Văn Kiệt được chị Tiên cho mượn xe mô tô hiệu Honda Winner X, biển số 69K1-397.24 để chở người thân ra bến xe, sau đó Kiệt nảy sinh ý định chiếm đoạt xe để sử dụng. Như vậy, bị cáo Nguyễn Văn Kiệt đã phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 175 của Bộ luật hình sự.
