Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI HÀ NỘI


CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 215/2025/HS-PT

Ngày 21/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuyển;

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Mạnh Tiến;

Ông Nguyễn Trọng Đoàn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thanh Huyền – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Phương - Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 1365/2024/TLPT-HS ngày 18 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo Đỗ Việt B, do có kháng cáo của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 181/2024/HS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

- Bị cáo bị kháng cáo:

Đỗ Việt B, sinh ngày 03/01/1984 tại huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nơi ĐKHKTT và nơi cư trú hiện nay: Thôn N, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Hữu C và bà Nguyễn Thị H; có vợ là Lục Thị H1 và có 02 con, con lớn sinh năm 2020, con nhỏ sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân:

  • + Ngày 10/5/2011, TAND huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh xử phạt Đỗ Việt B 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng về tội “Tham ô tài sản”. Chấp hành xong án phí dân sự ngày 10/5/2011.
  • + Ngày 27/8/2013, TAND huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa xử phạt Đỗ Việt B 07 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”, tổng hợp với Bản án ngày 10/5/2011 của TAND huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh, buộc Đỗ Việt B phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 bản án là 31 tháng tù giam. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/4/2015, chấp hành xong án phí ngày 24/10/2013.
  • + Ngày 05/3/2013, Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa xử phạt hành chính Đỗ Việt B về hành vi đánh nhau gây thương tích.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/01/2024 đến ngày 30/01/2024 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Thị H2 – Đoàn Luật sư tỉnh T. Có mặt.

- Bị hại có kháng cáo: Anh Vi Đức T, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Ông Hoàng Đức H3 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà Nước tỉnh T; Địa chỉ: số C, Đại lộ L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 30, ngày 20/01/2024, Đỗ Việt B đi uống rượu về đến trước cửa quán T1 anh Vi Đức T (hàng xóm) ở Thôn N, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa thì nhìn thấy con chó nhà anh T đứng trước cửa quán, B liền nhặt đá ném vào người con chó. Anh T thấy vậy liền nói “đừng ném chó nhà tao”. Nghe anh T nói vậy thì Đỗ Việt B cúi xuống nhặt một phần viên gạch không nung rồi xông lại chỗ anh T vào túm cổ áo, đe dọa đánh anh T, anh T nói với B: “Ông say rồi về đi ngủ đi”, Bắc ném phần viên gạch xuống trước cửa hàng rồi đi về nhà. Khi B đi về nhà, anh T nhặt phần viên gạch để vào gốc cây rồi lại bàn kê trước hiên quán ngồi uống nước. Lúc này Đỗ Việt B đi thẳng về nhà mình lấy một con dao (loại dao chặt) rồi quay ra cửa hàng nhà anh T. Khi nhìn thấy anh T, B nói: “Tao chém chết mày”, đồng thời, B cầm dao lao vào nhằm đầu của anh T để chém, anh T thấy vậy liền đứng lên để tránh đồng thời lùi vào phía trong nhà. B tiếp tục cầm dao lao vào chém anh T, anh T đưa tay ra đỡ và giằng co con dao với B. Trong lúc giằng co, anh T bị trượt ngã, B vung dao chém thẳng vào vùng đầu của anh T, anh T đưa tay phải lên đỡ thì bị chém trúng cẳng tay phải. Sau đó, B chém liên tiếp 02 nhát vào đầu của anh T. Anh T vừa chống đỡ vừa hô hoán: “ố làng ơi thằng B chém tôi”. Nghe tiếng anh T hô hoán, chị Trần Thị H4 (vợ anh T) từ trong nhà chạy ra, khi thấy chị H4 từ trong nhà chạy ra Đỗ Việt B dừng lại không chém anh T nữa mà cầm dao đi về nhà, anh T được người nhà đưa đi bệnh viện cấp cứu với các thương tích:

  • - 01 vết thương vùng đỉnh đầu dài 4cm, rộng 3cm, sâu 0,5cm vết thương sát xương, chảy máu.
  • - 01 vết thương vùng thóp trước đầu dài 6cm, rộng 0,4 cm, sâu 0,5cm vết thương sát xương, chảy máu.
  • - 01 vết thương thuộc vị trí 1/3 dưới mặt sau cẳng tay phải dài 5cm, rộng 1cm, sâu 0,8cm chảy máu.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 572/KL-KTHS ngày 29/01/2024, V - Bộ C1 kết luận: “Tổn thương trên cơ thể anh Vi Đức T tại thời điểm giám định tối thiểu là: 20% (hai mươi phần trăm) (hiện tại anh T đang điều trị nên chưa đánh giá được đầy đủ các di chứng chấn thương); Các tổn thương của Vi Đức T do vật sắc gây nên”.

Tại Kết luận giám định vật gây thương tích số 477/KLVGTT-PYTH ngày 04/5/2024, Trung tâm P kết luận: “Con dao có đặc điểm và hình ảnh mô tả trong hồ sơ gửi đến giám định nếu được sử dụng làm vật gây thương tích tác động vào cơ thể của Vi Đức T thì gây được các vết thương cho Vi Đức T như đã ghi nhận trong hồ sơ giám định do Cơ quan trưng cầu cung cấp; Các thương tích trên cơ thể Vi Đức T được ghi nhận trong hồ sơ giám định do Cơ quan trưng cầu cung cấp, nếu không được cấp cứu và xử lý y học kịp thời thì có thể dẫn đến Vi Đức T bị tử vong”.

Tại Kết luận giám định 1927/KL-KTHS ngày 16/5/2024 (đối với dữ liệu hình ảnh thu từ camera an ninh trước cửa quán nhà anh T), Phòng K Công an tỉnh T trích xuất được 07 ảnh từ tệp video có thời gian từ 20h15' đến 20h45′ ngày 20/01/2024 là hình ảnh Đỗ Việt B dùng dao chém anh Vi Đức T.

Tại Kết luận giám định 2201/KL-KTHS ngày 26/4/2024 (đối với mẫu máu trên dao thu giữ), V - Bộ C1 kết luận: “Trên con dao (phần lưỡi dao) gửi giám định có bám dính dấu vết máu người và là máu của Vi Đức T; Trên phần cán của con dao gửi giám định có bám dính tế bào người, không phân tích được kiểu Gen (ADN) do vậy không có cơ sở để so sánh với kiểu Gen (ADN) của Đỗ Việt B”.

Về dân sự: Anh Vi Đức T có yêu cầu Đỗ Việt B bồi thường chi phí điều trị, tổn hại sức khỏe, tiền mất thu nhập, tiền công người chăm sóc với tổng số tiền 106.083.000 đồng. Hiện Đỗ Việt B chưa bồi thường cho anh T.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 181/2024/HS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã quyết định:

Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 54; Điều 57; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Đỗ Việt B 09 (chín) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày 21/01/2024.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 584; Điều 585; Điều 590 Bộ luật Dân sự.

Buộc bị cáo Đỗ Việt B bồi thường cho bị hại Vi Đức T số tiền chi phí điều trị là: 102.038.000 đồng, được trừ 55.000.000 đồng đã bồi thường, còn lại 47.038.000 đồng cần phải bồi thường tiếp.

Bị hại Vi Đức T được nhận số tiền 50.000.000 đồng hiện đang lưu giữ tại Cục thi hành án tỉnh Thanh Hóa theo Biên lai thu tiền số 000420 ngày 20/9/2024.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định xử lý vật chứng, nghĩa vụ thi hành án, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 04/10/2024, bị hại Vi Đức T kháng cáo đề nghị tăng hình phạt và tăng mức bồi thường đối với bị cáo Đỗ Việt B.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại giữ nguyên kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX) xem xét chấp nhận kháng cáo của bị hại, sửa bản án sơ thẩm theo hướng hình phạt và tăng mức bồi thường đối với bị cáo Đỗ Việt B.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Về tội danh: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Đỗ Việt B về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Về hình phạt: Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, hậu quả của vụ án, các tình tiết giảm nhẹ bị cáo được hưởng, nhân thân của bị cáo thì mức hình phạt 09 (chín) năm tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo là tương xứng.

Về mức bồi thường dân sự: Quyết định của bản án sơ thẩm buộc bị cáo Đỗ Việt B bồi thường cho bị hại Vi Đức T số tiền chi phí điều trị là: 102.038.000 đồng là có căn cứ. Tuy nhiên, bị cáo Đỗ Việt B tự nguyện bồi thường thêm cho bị hại số tiền 20.000.000 đồng, đề nghị HĐXX ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo.

Đề nghị HĐXX căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355; Điều 356; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị hại Vi Đức T về hình phạt đối với bị cáo Đỗ Việt B, chấp nhận một phần kháng cáo của bị hại Vi Đức T về mức bồi thường đối với bị cáo Đỗ Việt B, sửa bản án sơ thẩm, ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Đỗ Việt B bồi thường thêm cho bị hại Vi Đức T số tiền 20.000.000 đồng.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Thống nhất với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị hại về phần hình phạt, chấp nhận một phần kháng cáo của bị hại, ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Đỗ Việt B tại phiên tòa phúc thẩm, sửa một phần bản án sơ thẩm về phần bồi thường thiệt hại của bị cáo Đỗ Việt B đối với bị hại Vi Đức T.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại trình bày: Đề nghị HĐXX xét xử nghiêm minh đối với bị cáo. Buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại các chi phí hợp lý theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1] Lời khai nhận tội của bị cáo Đỗ Việt B tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phiên tòa sơ thẩm; phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng; phù hợp với các Kết luận giám định, các vật chứng thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 20 giờ 30, ngày 20/01/2024, tại khu vực trước cửa quán tạp hóa gia đình anh Vi Đức T ở Thôn N, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, do đã uống rượu say không làm chủ được bản thân nên Đỗ Việt B đã dùng dao (loại dao chặt) chém nhiều nhát vào vùng đầu của anh T, hậu quả anh T bị khuyết xương hộp sọ vùng đỉnh chẩm phải, gây tổn thương 20% sức khỏe.

Vì vậy, Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử bị cáo Đỗ Việt B về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[2]. Xét kháng cáo của bị hại đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo Đỗ Việt B, HĐXX thấy:

Hành vi của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội, gây bức xúc trong dư luận xã hội, gây bất an trong quần chúng nhân dân. Bị cáo buộc phải nhận thức được hành vi dùng dao chém nhiều nhát vào vùng trọng yếu trên cơ thể bị hại có thể gây ra cái chết của bị hại, việc bị hại không chết là nằm ngoài ý thức chủ quan của bị cáo; mặt khác, bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị xét xử nhiều lần, nhưng không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân mà lại tiếp tục thực hiện tội phạm với lỗi cố ý thể hiện thái độ coi thường pháp luật.

Tuy nhiên, khi xem xét về hình phạt đối với bị cáo, HĐXX thấy quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; đã tích cực tác động gia đình bồi thường, khắc phục hậu quả được một phần cho bị hại; bố bị cáo là người có công với cách mạng, là thương binh với tỷ lệ thương tật suy giảm khả năng lao động là 66%; bị cáo có điều kiện, hoàn cảnh gia đình éo le, bị cáo không có công ăn, việc làm ổn định; đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo phạm tội thuộc trường hợp chưa đạt nên được áp dụng quy định tại Điều 15; Điều 57 Bộ luật Hình sự; Như vậy, xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, hậu quả của vụ án, trên cơ sở cân nhắc, xem xét tới nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng, xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào nên Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng quy định tại Điều 54 Bộ luật Hình sự, từ đó xử phạt bị cáo mức hình phạt 09 năm tù là tương xứng, phù hợp quy định pháp luật, đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật, đủ tác dụng răn đe, giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm. Tại phiên tòa phúc thẩm, mặc dù có kháng cáo nhưng bị hại Vi Đức T không đưa ra được căn cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo tăng hình phạt đối với bị cáo Đỗ Việt B. Vì vậy, không có cơ sở để Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị hại về phần hình phạt đối với bị cáo Đỗ Việt B.

[3]. Xét kháng cáo của bị hại Vi Đức T đề nghị tăng mức bồi thường đối với bị cáo Đỗ Việt B, HĐXX thấy:

Căn cứ vào đơn đề nghị ngày 09/5/2024, bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường dân sự (chi phí điều trị có hóa đơn và không có hóa đơn) với tổng số tiền là 106.083.000đ, trên cơ sở xem xét chi phí hợp lý, Tòa án cấp sơ thẩm quyết định chấp nhận các chi phí sau: Tiền xe đi lại: 1.000.000đ/lần x 6 lần = 6.000.000đ; Tiền thuốc, viện phí điều trị là: 34.838.000đ; Tiền mất thu nhập: 300.000đ/ngày x 24 ngày = 7.200.000đ; Tiền công chăm sóc: 300.000đ/ngày x 24 ngày = 7.200.000đ; Tiền tổn thất tinh thần: 2.340.000đ/tháng x 20 tháng = 46.800.000đ. Tổng cộng số tiền 102.038.000đ là có căn cứ, phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 584; Điều 585; Điều 590 Bộ luật Dân sự. Do đó, kháng cáo đề nghị tăng mức bồi thường của bị hại là không có cơ sở.

Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đỗ Việt B tự nguyện bồi thường thêm 20.000.000 đồng cho bị hại, nâng tổng số tiền phải bồi thường là 122.038.000 đồng. Vì vậy, HĐXX phúc thẩm ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo.

[4]. Từ những phân tích, nhận định nêu trên, HĐXX phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị hại Vi Đức T đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo Đỗ Việt B nhưng có cơ sở chấp nhận một phần kháng cáo của bị hại về phần trách nhiệm dân sự đối với bị cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Đỗ Việt B tại phiên tòa phúc thẩm.

[5] Về án phí: Bị hại Vi Đức T không phải chịu án phí phúc thẩm.

[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355, Điều 356, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Vi Đức T về phần hình phạt đối với bị cáo Đỗ Việt B; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 181/2024/HS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa về phần hình phạt đối với bị cáo Đỗ Việt B, cụ thể:

Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 54; Điều 57; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Đỗ Việt B 09 (chín) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày 21/01/2024.

2. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị hại Vi Đức T về phần trách nhiệm dân sự đối với bị cáo Đỗ Việt B; sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 181/2024/HS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Đỗ Việt B về mức bồi thường thiệt hại cho bị hại Vi Đức T, cụ thể:

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 584; Điều 585; Điều 590 Bộ luật Dân sự.

Buộc bị cáo Đỗ Việt B bồi thường cho bị hại Vi Đức T số tiền là: 122.038.000 đồng, được trừ 55.000.000 đồng đã bồi thường, còn phải tiếp tục bồi thường là 67.038.000 đồng.

Bị hại Vi Đức T được nhận số tiền 50.000.000 đồng hiện đang lưu giữ tại Cục thi hành án tỉnh Thanh Hóa theo Biên lai thu tiền số 000420 ngày 20/9/2024.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Bị hại Vi Đức T không phải chịu án phí phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật từ ngày tuyên án./.

CÁC THẨM PHÁNTHẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA
Nguyễn Mạnh TiếnPhạm Văn Tuyển
Nguyễn Trọng Đoàn

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT I – TANDTC;
  • - VKSNDCC tại Hà Nội;
  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Cục THADS tỉnh Thanh Hóa;
  • - Cơ quan Điều tra - Công an tỉnh Thanh Hóa;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa;
  • - Bị cáo (qua TTG);
  • - Người tham gia tố tụng khác (theo đ/c);
  • - Lưu: P. HCTP, HSVA.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Tuyển

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 215/2025/HS-PT ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về vụ án hình sự phúc thẩm (giết người)

  • Số bản án: 215/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự phúc thẩm (Giết người)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ Việt B phạm tội Giết người
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger