Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 215/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 25-3-2025

V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Hương

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lê Thị Mỹ Cẩm
  2. Ông Huỳnh Hồng Hải

Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Ngọc Lữ – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Trúc – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 785/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 02 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 37/2025/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị Lương V, sinh năm 1986

Địa chỉ: 48 đường R, Phường M, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Ông Trịnh Hữu N, sinh năm 1974

Địa chỉ: 48 đường R, Phường M, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện ngày 05/8/2024 và trong quá trình tham gia tố tụng, Nguyên đơn – bà Trần Thị Lương V trình bày: Bà và ông Trịnh Hữu N tự nguyện kết hôn với nhau năm 2011 (Giấy chứng nhận kết hôn số 171; Quyển số: 01/2011 do UBND Phường P, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 11/11/2011. Quá trình chung sống không hạnh phúc do có nhiều mâu thuẫn, đã 02 lần bà làm đơn ly hôn nhưng ông N tha thiết xin bà tha thứ để cùng chăm lo cho con nên bà đã rút đơn, nhưng ông N không thay đổi nên bà yêu cầu được ly hôn với ông N để ổn định cuộc sống.

Về quan hệ con chung: Có 02 con chung tên Trịnh Trần Minh T, sinh ngày 25/01/2012 và Trịnh Quốc A, sinh ngày 15/6/2015. Ly hôn, bà Vy yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu ông Nghĩa cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành niêm yết Thông báo thụ lý vụ án; Giấy triệu tập cho ông Trịnh Hữu N để tự khai; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông N đều vắng mặt.

Tại phiên tòa, Bị đơn – ông Trịnh Hữu N vắng mặt.

Nguyên đơn – bà Trần Thị Lương V trình bày: Quá trình chung sống ông N không chung thủy, không chăm lo cho gia đình nên cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, từ cuối năm 2022 đến nay vợ chồng ly thân. Nay bà xin được ly hôn với ông N, xin được nuôi hai con chung, không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con. Bà và ông N không có tài sản chung, nợ chung.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình phát biểu:

- Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã làm đúng quy định của pháp luật, xét xử đúng hạn luật định. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của pháp luật, người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

- Về nội dung: Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đương sự tại phiên tòa. Đề nghị Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tuyên xử chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết: Bà V khởi kiện yêu cầu ly hôn, do ông N cư trú tại quận Tân Bình nên Tòa án nhân dân quận Tân Bình thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

[2] Về việc tham gia phiên tòa của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình: Trong vụ án này, Tòa án có thu thập chứng cứ nên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình tham gia phiên tòa sơ thẩm theo quy định tại Điều 21 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[3] Về sự có mặt của đương sự tại phiên tòa: Nguyên đơn – bà V có mặt. Bị đơn – ông N đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông N theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[4] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ bản chính Giấy chứng nhận kết hôn số: 171; Quyển số: 01/2011 do UBND Phường P, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 11/11/2011 thì quan hệ hôn nhân giữa bà V và ông N là hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Bà Vy yêu cầu được ly hôn với ông N vì quá trình chung sống không hạnh phúc, ông N không chung thủy, không có trách nhiệm với gia đình, từ cuối năm 2022 đến nay vợ chồng đã ly thân.

Xét thấy: Quá trình giải quyết vụ án, ông N đã không đến Tòa án theo giấy triệu tập của Tòa án chứng tỏ ông N không muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng, bà V đã 2 lần làm đơn yêu cầu ly hôn, ông N tha thiết xin bà V tha thứ để có cơ hội thay đổi, hàn gắn gia đình nên bà V đã rút đơn nhưng tình cảm vợ chồng không cải thiện. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà V, ông N không có khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn trầm trọng, thời gian ly thân đã lâu, tình cảm vợ chồng không còn, nên căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà V, cho bà V được ly hôn ông N để hai bên cùng ổn định cuộc sống.

[5] Về quan hệ con chung: Căn cứ bản sao Giấy khai sinh do UBND xã W, huyện C, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 20/8/2015 và Bản sao Giấy khai sinh số: 327/2015; Quyển số: 02/2015 ngày 17/8/2015 của UBND Phường M, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh thì trẻ Trịnh Trần Minh T, sinh ngày 25/01/2012 và trẻ Trịnh Quốc A, sinh ngày 15/6/2015 là con chung của bà Trần Thị Lương V và ông Trịnh Hữu N. Bà V yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ Minh T, Quốc A không yêu cầu ông Nghĩa cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy: Trẻ Minh T, Quốc A còn nhỏ, bà V đang là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng nên để ổn định sinh hoạt, học hành của trẻ Minh T, Quốc A và phù hợp với nguyện vọng của trẻ Minh T, Quốc A là muốn ở với mẹ nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà V, quyết định giao trẻ Minh T, Quốc A cho bà Vy tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi thành niên.

[6] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà V không yêu cầu ông Nghĩa cấp dưỡng nuôi trẻ Minh Thư, Quốc A do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi trẻ Minh T, Quốc A đối với ông N do bà V không yêu cầu.

[7] Về tài sản chung, nợ chung: Bà V trình bày không có nên Hội đồng xét xử không có gì phải xem xét giải quyết, nếu sau này ông N có tranh chấp sẽ được giải quyết ở vụ án khác.

[8] Đối với ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.

[9] Về án phí: Căn cứ Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, bà V phải chịu 300.000₫ án phí ly hôn sơ thẩm, được cấn trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Điều 21; Khoản 1 Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Khoản 1 Điều 273; Khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào các Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116, 117,118 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Căn cứ vào Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014);

- Căn cứ vào điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn – bà Trần Thị Lương V.

a. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Lương V được ly hôn ông Trịnh Hữu N.

b. Về quan hệ con chung: Giao trẻ Trịnh Trần Minh T, sinh ngày 25/01/2012 và Trịnh Quốc A, sinh ngày 15/6/2015 cho bà Trần Thị Lương V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi trẻ Trịnh Trần Minh T, Trịnh Quốc A đối với ông Trịnh Hữu N do bà Trần Thị Lương V không yêu cầu.

Khi có lý do chính đáng mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng có thể thay đổi.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình 2014 Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

c. Về tài sản chung, nợ chung: Nếu ông Trịnh Hữu N có tranh chấp sẽ được giải quyết ở vụ án khác.

2/ Về án phí: Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) do bà Trần Thị Lương V chịu, được cấn trừ vào 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí bà Trần Thị Lương V đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0002532 ngày 22/10/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

3/ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

4/ Về quyền kháng cáo: Bà Trần Thị Lương V được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Trịnh Hữu N được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết bản án hợp lệ.

5/ Về quyền kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình;
  • - Chi cục Thi hành án Dân sự quận Tân Bình;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thị Mai Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 215/2025/HNGĐ-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 215/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Trần Thị Lương V yêu cầu được ly hôn ông Trịnh Hữu Nghĩa
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger