TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - NINH BÌNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 215/2025/HNGĐ - ST Ngày: 09 - 12 - 2025 V/v: Ly hôn, nuôi con khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Xuân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Việt Hùng;
Ông Lưu Văn Đê.
- Thư ký phiên toà: Ông Trương Tuấn Hải - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11 - Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 - Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 182/2025/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 17 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 71/2025/QĐST – HNGĐ, ngày 28 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Vũ Thị T, sinh năm 2001; địa chỉ: Thôn X, xã Y, tỉnh Thanh Hóa.
- - Bị đơn: Anh Vũ Văn H, sinh năm 1997; địa chỉ: Xóm E N, xã N, tỉnh Ninh Bình.
- - Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1970; địa chỉ: Xóm E N, xã N, tỉnh Ninh Bình.
Tại phiên tòa: Chị T, anh H, bà L vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 20 tháng 10 năm 2025, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Vũ Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị T và anh Vũ Văn H có đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nam Định (nay là xã N, tỉnh Ninh Bình) ngày 17/6/2019 trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2024 thì không còn hạnh phúc nữa. Nguyên nhân là do tính tình lối sống không hòa hợp, bất đồng ý kiến, vợ chồng đều đã cố gắng để chung sống hòa thuận nhưng không có kết quả. Do mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng nên anh chị đã sống ly thân nhau từ tháng 9 năm 2024 đến nay, không quan tâm đến nhau. Nay chị T nhận thấy không còn tình cảm với anh H, vợ chồng không thể tiếp tục chung sống hạnh phúc nên xin được ly hôn anh Vũ Văn H.
Về con chung: Chị T và anh H có 01 con chung là Vũ Thị Linh Đ, sinh ngày 09/10/2020 hiện đang ở cùng chị T. Khi ly hôn chị T có nguyện vọng được nuôi cháu Đ, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân khu vực 11 - Ninh Bình đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án số 182/2025/TLST – HNGĐ, ngày 22/10/2025, giấy triệu tập, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và các văn bản tố tụng khác cho bị đơn là anh Vũ Văn H để anh H biết và có ý kiến bằng văn bản về yêu cầu xin ly hôn của chị T gửi Tòa án và đến Tòa án làm việc. Tuy nhiên, trong suốt quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến nay, anh H không có văn bản thể hiện ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của chị T gửi Tòa án và cũng không đến Tòa làm việc mà không có lý do.
Tại biên bản lấy lời khai của người làm chứng, bà Nguyễn Thị L trình bày: Bà là mẹ của anh Vũ Văn H. Anh H và chị T tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn như chị T trình bày là đúng, sau khi cưới chị T, anh H chung sống cùng với gia đình bà, đến tháng 3 năm 2025 chị T đưa con về quê ở Thanh Hóa sinh sống còn anh H vẫn ở cùng bà. Anh H và chị T có 01 con chung như chị T trình bày là đúng, hiện nay cháu Đ đang ở cùng chị T. Sau khi nhận thông báo thụ lý vụ án và các văn bản của Tòa án gửi cho anh H, bà L đều đã thông báo và giao ngay văn bản cho anh H biết nhưng anh H bận công việc nên không thể đến Tòa án làm việc được, anh H đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Ninh Bình phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án:
Về việc tuân theo pháp luật: Quá trình giải quyết vụ án, việc thụ lý, giải quyết, thu thập tài liệu chứng cứ, xác định tư cách của những người tham gia tố tụng và trình tự thủ tục tố tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình:
Cho ly hôn giữa chị Vũ Thị T và anh Vũ Văn H;
Về con chung: Giao con chung là cháu Vũ Thị Linh Đ, sinh ngày 09/10/2020 cho chị T trực tiếp nuôi đến tuổi thành niên. Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị T, chị T và anh H có mọi quyền, nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật.
Các vấn đề khác đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Vũ Thị T vắng mặt nhưng đã có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa; bị đơn anh Vũ Văn H vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do, người làm chứng bà Nguyễn Thị L có ý kiến xin vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn, người làm chứng là phù hợp với quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về hôn nhân: Chị Vũ Thị T và anh Vũ Văn H có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nam Định cũ (nay là xã N, tỉnh Ninh Bình) ngày 17/6/2019 trên cơ sở tự nguyện nên quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh H là hợp pháp. Cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc từ năm 2024. Nguyên nhân theo chị T trình bày do tính tình không hợp, bất đồng ý kiến, vợ chồng sống ly thân từ tháng 9 năm 2024 đến nay. Nay chị T xin ly hôn, anh H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng và biết việc chị T xin ly hôn nhưng không có ý kiến gửi Tòa án.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Vũ Thị T, Hội đồng xét xử nhận định: thực tế cuộc sống vợ chồng giữa chị T và anh H không hạnh phúc; khi mâu thuẫn vợ chồng xảy ra, hai người không có biện pháp, hành động để hàn gắn tình cảm; mặt khác anh H đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, biết việc chị T xin ly hôn nhưng đến nay không có văn bản ghi ý kiến gửi Tòa án và cũng không có mặt tại các buổi làm việc của Tòa án đã chứng minh anh H không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị T. Như vậy, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T, cho chị Vũ Thị T được ly hôn anh Vũ Văn H là phù hợp.
[3] Về con chung: Chị Vũ Thị T và anh Vũ Văn H có 01 con chung Vũ Thị Linh Đ, sinh ngày 09/10/2020 hiện đang ở cùng chị T. Khi ly hôn chị T có nguyện vọng được nuôi cháu Đ, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Anh H không có ý kiến về việc nuôi con chung sau khi ly hôn. Xét thấy con chung còn nhỏ, cần có sự chăm sóc của mẹ, để đảm bảo điều kiện tốt nhất cho con chung phát triển, căn cứ các Điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, cần giao cháu Đ cho chị T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Do chị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn nên anh H không phải cấp dưỡng nuôi con, hai bên có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật.
[4] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Do đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
[5] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn chị Vũ Thị T phải nộp án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý về sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Vũ Thị T và anh Vũ Văn H.
- Về việc nuôi con chung chưa thành niên: Giao cháu Vũ Thị Linh Đ, sinh ngày 09/10/2020 cho chị Vũ Thị T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên. Anh Vũ Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có mọi quyền, nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Hiện cháu Đ đang ở cùng chị T.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Vũ Thị T phải nộp án phí ly hôn 300.000 đồng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0002025 ngày 22/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình. Chị T đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Vũ Thị T và bị đơn anh Vũ Văn H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Xuân |
Bản án số 215/2025/HNGĐ - ST ngày 09/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - NINH BÌNH về ly hôn, nuôi con khi ly hôn.
- Số bản án: 215/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con khi ly hôn.
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con khi ly hôn giữa chị T và anh H
