Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẦN VĂN THỜI

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 215/2025/DS-ST

Ngày 13-6-2025

V/v tranh chấp đòi lại tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Len

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Quang Minh

Ông Nguyễn Việt Thắng

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Nga Muội – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời: Bà Trần Hồng Cẩm – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 36/2025/TLST-DS ngày 20 tháng 01 năm 2025 về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 87/2025/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Lâm Hoàng V (Dũ), Sinh năm 1961

Địa chỉ cư trú: Ấp Ô, xã K, huyện T, tỉnh C.

Người đại diện theo ủy quyền của ông V: Bà Nguyễn Tuyết V1, sinh năm 1962 (có mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp Ô, xã K, huyện T, tỉnh C.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, Sinh năm 1957

Địa chỉ cư trú: Ấp Ô, xã K, huyện T, tỉnh C.

Người đại diện theo ủy quyền của ông T: Ông Nguyễn Quốc T1, sinh năm 1966 (có mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp Ô, xã K, huyện T, tỉnh C.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Nguyễn Tuyết V1, Sinh năm 1962 (có mặt)

Địa chỉ cư trú: Ấp Ông B, xã K, huyện T, tỉnh C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Đại diện theo ủy quyền Nguyên đơn bà Nguyễn Tuyết V1 trình bày:

Trước đây ngày 09/7/2009 al vợ chồng bà (ông Lâm Hoàng D) có nhận chuyển nhượng thành quả lao động 01 công đất ruộng của ông Nguyễn Văn T, giá chuyển nhượng 11 chỉ vàng 24k, từ năm 2009 đến nay thì ông T không giao đất chuyển nhượng cho vợ chồng bà, khi chuyển nhượng không có làm hợp đồng chuyển nhượng chỉ làm biên nhận nhận vàng. Khi chuyển nhượng không nói vị trí đất, số vàng chuyển nhượng thì vợ chồng bà đã giao vàng cho ông T. Nay yêu cầu ông T trả lại cho vợ chồng bà 11 chỉ vàng 24k.

Người đại diện theo uỷ quyền của ông Nguyễn Văn T, ông Nguyễn Quốc T1 trình bày:

Ngày 09/7/2009 al ông có thỏa thuận với vợ chồng bà V1, ông V chuyển nhượng thành quả lao động 01 công đất ruộng của ông, giá chuyển nhượng 11 chỉ vàng 24k hai bên chỉ làm biên nhận nhận vàng không lập hợp đồng chuyển nhượng, ông đã giao đất cho vợ chồng ông V canh tác quản lý từ năm 2009 đến nay, ông không đồng ý theo yêu cầu của ông V yêu cầu ông trả 11 chỉ vàng 24k.

Phát biểu kiểm sát viên:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đúng theo trình tự quy định của pháp luật, các đương sự đã thực hiện đúng quy định Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lâm Hoàng V (Dũ) đối với ông Nguyễn Văn T về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn T trả 11 chỉ vàng 24k.

Án phí dân sự sơ thẩm nguyên đơn là người cao tuổi được miễn theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, qua kết quả tranh luận công khai tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét toàn diện tài liệu, chứng cứ, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[1] Về tố tụng: Xét về thẩm quyền và quan hệ pháp luật tranh chấp: Quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự “Tranh chấp đòi lại tài sản”, bị đơn có nơi cư trú tại huyện T, do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về Nội dung: Nguyên đơn xác định ngày 09/7/2009 al nguyên đơn có nhận chuyển nhượng thành quả lao động 01 công đất ruộng của ông Nguyễn Văn T, giá chuyển nhượng 11 chỉ vàng 24k, từ năm 2009 đến nay thì ông T không giao đất chuyển nhượng, khi chuyển nhượng không có làm hợp đồng chuyển nhượng chỉ làm biên nhận nhận vàng. Khi chuyển nhượng không nói vị trí đất, do ông T không giao đất cho nguyên đơn, yêu cầu ông T trả lại 11 chỉ vàng 24k. Bị đơn không đồng ý theo yêu cầu của nguyên đơn vì sau khi chuyển nhượng đất bị đơn đã giao đất cho nguyên đơn.

[3] Hội đồng xét xử thấy rằng: Việc nguyên đơn và bị đơn có thoả thuận chuyển nhượng đất là thực tế có xảy ra, được các bên thừa nhận, việc chuyển nhượng đất không làm hợp đồng chuyển nhượng theo quy định pháp luật chỉ lập biên nhận vàng nội dung có chuyển nhượng đất, giá chuyển nhượng 11 chỉ vàng 24k. Bị đơn cho rằng sau khi nhận vàng năm 2009 thì đã giao đất cho nguyên đơn, nguyên đơn thì không thừa nhận có giao đất. Thấy rằng lời trình bày của nguyên đơn là không có căn cứ vì trong quá trình giải quyết tranh chấp giữa bà Nguyễn Tuyết V1 và ông Nguyễn Văn T thì bà V1 thừa nhận ông T có giao đất chuyển nhượng cho vợ chồng bà nhưng sau đó có lúc bà cho rằng ông T lấy phần đất của bà giao cho bà, có lúc giao thiếu diện tích, có lúc không giao. Thấy rằng lời trình bày của bà là không thống nhất. Thực tế phần đất ông V, bà V1 nhận chuyển nhượng từ ông T và đã canh tác từ năm 2009 đến nay mà cho rằng không nhận đất là không phù hợp.

Từ những phân tích trên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Phát biểu kiểm sát viên tại phiên toà là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Án phí sơ thẩm: Nguyên đơn là người cao tuổi được miễn án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 116 Bộ luật dân sự; khoản 1 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lâm Hoàng V (D) đối với ông Nguyễn Văn T về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn T trả 11 chỉ vàng 24k.
  2. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Ông Lâm Hoàng V (D) là người cao tuổi được miễn án phí theo quy định.
  3. Án xử sơ thẩm: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo luật định.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND H. Trần Văn Thời;
  • - Chi cục THADS H. Trần Văn Thời;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Len

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 215/2025/DS-ST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp đòi lại tài sản

  • Số bản án: 215/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Lâm Hoàng Vũ yêu cầu ông Nguyễn Văn Thắng trả tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger