| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
| Bản án số: 215/2024/HS-PT Ngày 15 - 7 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Đức Nam.
Các Thẩm phán: 1. Ông Ngô Đức Thụ.
2. Bà Phạm Uyên Thy.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thăng - Thư ký Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 206/HSPT ngày 25 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo Đỗ Hồng Q do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 109/2024/HS-ST ngày 15 tháng 5 năm 2024 của Tòa án Nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị cáo có kháng cáo:
Đỗ Hồng Q, sinh năm 1990 tại Bắc Giang; nơi thường trú: thôn B, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: công nhân; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Minh Cương và bà Giáp Thị Nghiệp; chưa có vợ con; tiền án: không; tiền sự: không; bị tạm giam từ ngày 02/3/2024, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đỗ Hồng Q và anh Trần Văn N làm thuê tại xưởng inox địa chỉ nhà không số, Tổ 5, Ấp 4B, xã Vĩnh Lộc B, huyện Bình Chánh. Khoảng 09 giờ ngày 06/10/2022, khi đang ở xưởng inox thì Q hỏi mượn xe mô tô Honda Airblade 150 màu xanh biển số 63P1-399.02 của anh N để đi công việc thì anh N đồng ý và giao xe cùng chìa khóa xe cho Q. Khi Q đang điều khiển xe mô tô biển số 63P1-399.02 trên đường đi công việc thì bị T (không rõ lai lịch) đòi lại số tiền mà Q đang thiếu nợ nên Q nảy sinh ý định cầm xe mô tô biển số 63P1-399.02 cho T để trừ nợ và có tiền tiêu xài. Sau đó, Q nhắn tin cho T là bản thân muốn cầm xe cho T để trừ nợ thì T đồng ý và hẹn gặp nhau tại quán cà phê “Việt Coffee” địa chỉ 43W/11 Phan Văn Đối, ấp Tiền Lân 1, xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn. Q phát hiện trong cốp xe mô tô biển số 63P1-399.02 có giấy đăng ký xe của anh Ngoan. Tại quán cà phê “Việt Coffee”, Q cầm xe mô tô biển số 63P1-399.02 cho T với giá 35.000.000 đồng nhưng viết giấy bán xe cho T và hẹn 10 ngày sau sẽ chuộc lại xe. Sau khi trừ 3.000.000 đồng Q thiếu nợ, T đã chuyển vào khoản ngân hàng cho Q 32.000.000 đồng (Q khai không nhớ là tài khoản nào). Q đã sử dụng số tiền này nạp hết vào tài khoản game đánh bài trên mạng “Sun Win” trên điện thoại di động và chơi thua hết số tiền này. Khoảng 11 giờ cùng ngày, Q gọi điện thoại cho anh N hứa hẹn sẽ trả lại xe nhưng sau đó Q không quay lại, anh N cũng không liên lạc được với Q nữa. Ngày 11/01/2023, anh N tố cáo Đỗ Hồng Q chiếm đoạt xe đến Công an xã Vĩnh Lộc B lập hồ sơ ban đầu chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B điều tra, xử lý.
Kết luận định giá tài sản số 1101/KL-HĐĐGTS ngày 21/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự xác định: xe mô tô biển số 63P1-399.02 nhãn hiệu Honda, loại Airblade 150 trị giá 41.992.500 đồng (BL 34-36).
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh, Đỗ Hồng Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên, phù hợp với lời khai của anh Trần Văn N và các chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án (BL 54-75).
Về dân sự: Anh Trần Văn N đã được gia đình bị cáo Đỗ Hồng Q bồi thường số tiền 45.000.000 đồng nên đã làm Đơn bãi nại cho Q (BL 127).
Cáo trạng số 119/CT-VKSBC ngày 27/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 109/2024/HS-ST ngày 15 tháng 5 năm 2024 của Tòa án Nhân dân huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, đã quyết định:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 175; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Đỗ Hồng Q 02 (hai) năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/3/2024.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm: ngày 17/5/2024 bị cáo Đỗ Hồng Q kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giảm hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản án sơ thẩm đã nêu và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sau khi phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhận định án sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan sai và mức án đã tuyên đối với bị cáo Đỗ Hồng Q 02 (hai) năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” là có căn cứ. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không cung cấp tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Bị cáo không tranh luận.
- Bị cáo nói lời nói sau đã nhận thức được hành vi sai trái xin Hội đồng xét xử xem xét giảm hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Vào khoảng 09 giờ ngày 06/10/2022, tại xưởng inox địa chỉ nhà không số, tổ 5, ấp 4B, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Bị cáo Đỗ Hồng Q mượn xe mô tô Honda Airblade 150 màu xanh biển số 63P1-399.02 của bị hại Trần Văn N là người cùng làm chung tại xưởng với bị cáo Q. Bị hại N đồng ý và giao xe cho bị cáo để đi công việc. Có xe bị cáo Q đem đi cầm cho T (không rõ lai lịch) với giá 35.000.000 đồng nhưng viết giấy bán xe cho T và hẹn 10 ngày sau sẽ chuộc lại xe (do trước đó bị cáo có nợ tiền của T), trong cốp xe có giấy đăng ký xe. Sau khi trừ 3.000.000 đồng do Q thiếu nợ, T đã chuyển vào tài khoản ngân hàng cho bị cáo Q 32.000.000 đồng (Q khai không nhớ là tài khoản nào). Bị cáo Q đã sử dụng số tiền này nạp hết vào tài khoản game đánh bài trên mạng “Sun Win” trên điện thoại di động và chơi thua hết số tiền này. Sau khi lấy xe của bị hại, bị cáo Q có liên hệ với bị hại Toàn sẽ trả xe nhưng sau đó không quay lại, bị hại Toàn không liên lạc được với bị cáo Q . Nên đến ngày 11/01/2023, bị hại Toàn làm đơn tố cáo đến Cơ quan Công an. Tại Cơ quan điều tra bị cáo Q thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu. Tài sản chiếm đoạt qua định giá có trị giá 41.400.000 đồng. Như vậy, hành vi khách quan của bị cáo Q đã cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp.
[2] Với hành vi khách quan nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử bị cáo Đỗ Hồng Q về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm) là đúng người, đúng tội, không oan sai.
Và khi lượng hình Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; gia đình bị cáo đã bồi thường cho bị hại và được bị hại làm đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo quy định tại các điểm b điểm i điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo 02 (hai) năm tù là trong khung hình phạt, có căn cứ.
[3] Với lập luận tại đoạn [1], [2] và tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không cung cấp tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận quan điểm của Viện kiểm sát, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Hồng Q và giữ nguyên bản án sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[4] Xét về án phí đối với bị cáo: phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 175, các điểm b điểm i điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Căn cứ khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Hồng Q và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Đỗ Hồng Q 02 (hai) năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/3/2024.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Bùi Đức Nam |
Bản án số 215/2024/HS-PT ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 215/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 15/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
