Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NGÔ QUYỀN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 215/2024/HS-ST

Ngày 05-9-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Hồng Phương

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Vũ Văn Khang

Bà Nguyễn Thị Tư

- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Trọng Kiên - Thư ký Toà án nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Ly - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận Ngô Quyền, Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 205/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 537/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:

Lê Quang T, sinh ngày 27 tháng 11 năm 1998 tại Hải Phòng; nơi thường trú: Số E gác B T, phường T, quận L, thành phố Hải Phòng; nơi ở: B Đ, phường Đ, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Quang H và bà Lê Thị T1; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ từ ngày 29/4/2024, tạm giam từ ngày 07/5/2024; có mặt.

- Bị hại: Anh Lê Hoài N, sinh năm 1995, nơi cư trú: Số D N, phường G, quận N, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Người làm chứng: Anh Phạm Đức H1, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ 15 phút ngày 13/4/2024, T và bạn là anh Lê Hoài N (sinh năm 1995, trú tại: Số D N, G, Ngô Q, Hải Phòng) cùng chơi điện tử tại quán I ở số G L, Cầu Đ, Ngô Q, Hải Phòng. Anh N nhắn tin qua M nhờ T cầm cố hộ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đỏ đen mang biển kiểm soát 15B1-882.30 của anh N trong thời hạn 01 tuần với số tiền vay từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng, T đồng ý. Khoảng 20 giờ 15 phút cùng ngày, T và anh N cùng đi đến khu vực chân C, K, Hải Phòng. Tại đây, T bảo N đứng đợi ở ngoài còn T điều khiển xe mô tô của anh N đi vào nhà Phạm Đức H1 (sinh năm 1987, ở số D T, L, K, Hải Phòng) và cầm cố xe cho H1 để vay được số tiền 2.000.000 đồng. H1 đưa cho T 1.800.000 đồng, còn 200.000 đồng H1 giữ lại tiền lãi của 05 ngày. T cầm tiền và cùng N quay trở lại quán điện tử. Tại đây, T nói dối anh N là tiền lãi bị cắt trước là 300.000 đồng và đưa cho anh N 1.700.000 đồng (T chiếm đoạt 100.000 đồng).

Đến ngày 19/4/2024 do không có tiền ăn tiêu, T tiếp tục nảy sinh ý định lừa đảo để chiếm đoạt tiền của anh N. T nói dối anh N cần phải đóng tiền lãi cho H1 và bảo anh N chuyển số tiền 200.000 đồng vào tài khoản số [...] mở tại ngân hàng V mang tên Le Thi N1 là tài khoản của vợ anh H1. Thực chất tài khoản trên là của chị Lê Thị N2 (sinh năm 1983, trú tại 1 H, Đ, H, Hải Phòng) là bạn của T. Anh N tin tưởng nên đã chuyển tiền vào tài khoản trên. Sau đó T đến gặp chị N2 lấy 200.000 đồng tiền mặt và tiêu xài cá nhân hết.

Do quá thời hạn cầm cố xe nhưng T không đóng tiền lãi cũng không đến chuộc xe, ngày 22/4/2024, H1 nhắn tin thông báo cho T biết chiếc xe đã được anh H1 bán đi. Mặc dù biết việc này nhưng khoảng 21 giờ 15 phút ngày 23/4/2024 khi anh N bảo T là có tiền rồi và nhờ T đi chuộc xe, T liền bảo anh N chuyển khoản số tiền 2.000.000 đồng vào tài khoản của chị N2. T chở anh N tới đầu đường T rồi giả vờ đi vào nhà H1 để chuộc xe cho anh N. Sau đó, T đi bộ vào đường T và thuê xe ôm đến nhà chị N2 lấy số tiền 2.000.000 đồng rồi ăn tiêu hết.

Tại Cáo trạng số 208/CT-VKSNQ ngày 14 tháng 8 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền truy tố bị cáo Lê Quang T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Căn cứ điểm khoản 1 Điều 174; Điều 38; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 9 tháng đến 15 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu về dân sự nên không xem xét giải quyết.
  • - Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi như nội dung nêu trên và bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Bị hại giữ nguyên ý kiến đã trình bày tại cơ quan điều tra, không có yêu cầu về dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận N, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét có đủ cơ sở kết luận: Từ ngày 13/4/2024 đến ngày 22/4/2024, tại số G L, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng, do không có tiền tiêu xài cá nhân, bị cáo Lê Quang T đã dùng thủ đoạn gian dối làm cho anh Lê Hoài N tin tưởng, chiếm đoạt số tiền 2.300.000 đồng của anh Lê Hoài N. Hành vi của bị cáo Lê Quang T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, gây mất trật tự, trị an ở địa phương, đủ yếu tố cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.

- Về hình phạt:

[3] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo đã thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Sau khi phạm tội bị cáo đã đến cơ quan Công an đầu thú nên bị cáo Lê Quang T được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo, xét cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

[6] Theo khoản 5 Điều 174 của Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự:

[7] Bị hại là anh Lê Hoài N không có yêu cầu về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về án phí:

[8] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Về những vấn đề khác:

[9] Chị Lê Thị N2 là người nhận tiền giúp bị cáo Lê Quang T, do không biết việc bị cáo Lê Quang T lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh Lê Hoài N nên không có căn cứ xử lý.

[10] Đối với Phạm Đức H1 nhận cầm cố tài sản nhưng không đăng ký ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, Cơ quan điều tra đã có Công văn số 1438/CV ngày 25/7/2024 đề nghị Công an quận K xử phạt hành chính đối với Phạm Đức H1 theo quy định Điều 12 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 174; Điều 38, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự,

Tuyên bố bị cáo Lê Quang T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lê Quang T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29 tháng 4 năm 2024.

Về án phí: Căn cứ các điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội, bị cáo Lê Quang T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - VKSND Quận Ngô Quyền;
  • - VKSND TP. Hải Phòng;
  • - TAND TP. Hải Phòng;
  • - CQCSĐT- Công an Quận Ngô Quyền;
  • - CQTHAHS- Công an Quận Ngô Quyền;
  • - Công an quận Ngô Quyền;
  • - Sở Tư pháp TP. Hải Phòng;
  • - Trại tạm giam- Công an thành phố Hải Phòng;
  • - Chi cục THA DS Quận Ngô Quyền;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đào Thị Hồng Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 215/2024/HS-ST ngày 05/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 215/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: thụ lý 205
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger