TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA Bản án số: 215/2024/HS-PT Ngày 25-11 - 2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Nguyệt
Các thẩm phán: Bà Lê Thị Thuỷ;
Bà Trương Thị Anh .
-Thư ký phiên toà: Ông Nghiêm Xuân Đạt-Thư ký TAND tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:
Bà Bùi Thị Thanh Hiếu - Kiểm sát viên
Ngày 25 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 303 /2024/TLPT-HS ngày 31 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Trương Thế D do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 68 /2024/HSST ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.
Bị cáo kháng cáo: Trương Thế D, sinh ngày 27/07/1992, tại xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Số CCCD: [...]; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Thế D1 (đã chết) và bà Lê Thị S; có vợ: Nguyễn Thị N và 02 con; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: ngày 20/03/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, (đã chấp hành xong hình phạt ngày 20/6/2019); bị tạm giữ ngày 04/04/2024 đến ngày 12/04/2024 thay thế biện pháp ngăn chặn, “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 12/04/2024 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Các bị cáo khác trong vụ án không có kháng cáo kháng nghị:
- Nguyễn Thành C, sinh ngày 05/05/1988, tại xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa;
- Nguyễn Văn L, sinh ngày 13/05/1972, tại xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa;
- Nguyễn Văn S1, sinh ngày 04/03/1985, tại xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa;
- Mai Văn T, sinh ngày 07/09/1988, tại xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa;
- Nguyễn Văn H, sinh ngày 24/04/1990, tại xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa;
- Nguyễn Văn T1, sinh ngày 05/10/1967, tại xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa;
- An Công H1, sinh ngày 22/05/1982, tại xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: thôn Y, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 04/04/2024, Nguyễn Thành C, Nguyễn Văn S1 và Mai Văn T đến nhà của Nguyễn Văn L ở cùng thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa ngồi chơi uống nước. Trong quá trình ngồi uống nước, C rủ S1, T và L đánh bài ăn tiền thì mọi người đồng ý. Do thấy có ít người chơi nên C gọi điện và nhắn tin rủ Trương Thế D còn Nguyễn Văn S1 gọi điện và nhắn tin rủ Nguyễn Văn H đến đánh bạc. Trong lúc chờ D và Hội, C, S1, T, L ngồi xuống chiếc chiếu đã trải sẵn ở nền nhà, C lấy bộ bài tú lơ khơ để ở phản gỗ, cả bốn người thống nhất với nhau đánh bạc dưới hình thức đánh “Liêng”.
Cách thức đánh bạc được các bị cáo thống nhất như sau: sử dụng bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài (từ A đến K) để chơi. Tiền đặt cược ban đầu cho mỗi ván chơi (tiền gà) là 20.000 đồng. Sau khi đặt tiền thì một người sẽ chia cho mình và những người còn lại mỗi người 03 lá bài. Nhận bài xong, tùy theo điểm bài của mình thì người chơi có thể tố (đặt cược) từ 20.000 đồng đến 200.000 đồng hoặc úp bài theo thứ tự ngược chiều kim đồng hồ, bắt đầu từ người chia bài. Sau khi quá trình đặt cược kết thúc thì sẽ tiến hành so bài với nhau. Người có bộ bài lớn nhất sẽ là người chiến thắng và sẽ nhận được toàn bộ tiền cược của những người thua cược.
Thứ tự tổng số điểm từ lớn đến bé gồm: S2 (là bộ có 03 lá bài giống nhau), L1 (là bộ có 03 lá bài liên tiếp nhau), Đ (là bộ có 03 lá bài J, Q, K); sau cùng là tính điểm, điểm cao nhất là 9 và thấp nhất là 0 điểm, các lá bài từ 2 đến 9 có số điểm tương ứng theo số trên lá bài, lá A là 1 điểm và các lá 10, J, Q, K là 0 điểm, tổng ba lá bài cộng lại lấy số hàng đơn vị, khi bộ bài của những người chơi có tổng điểm lớn nhất có số điểm bằng nhau thì những người này sẽ tiếp tục chơi thêm ván khác để phân định thắng thua (ván này gọi là ván “chào”). Những người khác có số điểm thấp hơn đã úp bài muốn tham gia vào chơi ván “chào” thì phải đặt cược thêm, số tiền cược tối đa là 300.000 đồng. Người chơi thắng ở ván này sẽ là người chia bài ở ván chơi tiếp theo. Người thắng cược ở mỗi ván “chào” sẽ cắt ra số tiền 20.000 đồng để vào hộp đựng giấy màu vàng cho chủ nhà là Nguyễn Văn L.
Quá trình chơi, C sử dụng số tiền 1.550.000 đồng, S1 sử dụng số tiền 1.050.000 đồng, T sử dụng số tiền 1.900.000 đồng và L sử dụng số tiền 250.000 nghìn đồng để đánh bạc. Một lúc sau, Nguyễn Văn H đến chơi cùng, H sử dụng số tiền 1.600.000 đồng để đánh bạc. Khi chơi thua hết số tiền 250.000 đồng của mình thì L nghỉ chơi và ra võng ngồi xem. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, Trương Thế D đến và tham gia đánh bạc cùng cả nhóm, D sử dụng số tiền 2.240.000 đồng để đánh bạc. Khoảng 15 phút, Nguyễn Văn H2 đi làm về qua nhà Nguyễn Văn L, thấy trước nhà dựng nhiều xe máy nên vào xin tham gia đánh bạc cùng và được mọi người đồng ý, H2 sử dụng số tiền 400.000 đồng để đánh bạc. Cả nhóm tiếp tục chơi đến 16 giờ cùng ngày thì bị tổ công tác Công an huyện H tiến hành kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang.
Sau sau khi lực lượng Công an bắt quả tang các đối tượng đánh bạc, đến 19 giờ cùng ngày, Nguyễn Văn L đã tự nguyện đến cơ quan điều tra xin đầu thú, khai nhận về hành vi đánh bạc của mình trước đó và là người được hưởng số tiền cắt phế 320.000 đồng.
Tại Bản kết luận giám định số 1615/KL-KTHS ngày 23/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: 98 tờ tiền Việt Nam đồng được đựng trong hai phong bì niêm phong ký hiệu “Tiền quả tang 8.670.000₫” và “Tiền cắt phế” là tiền thật.
Quá trình điều tra, cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra nội dung tin nhắn và cuộc gọi trong 05 chiếc điện thoại đã thu giữ của các đối tượng. Kết quả thể hiện Nguyễn Thành C, Trương Thế D, Nguyễn Văn S1 và Nguyễn Văn H đều sử dụng điện thoại cá nhân để liên lạc, phục vụ cho hành vi phạm tội của mình. Ngoài ra đó còn phát hiện vào hồi 17 giờ 44 phút ngày 12/12/2022, D đã sử dụng chiếc điện thoại nhãn hiệu Vivo Y21s màu xanh nhạt gắn sim số 0977718992 nhắn tin đến số điện thoại 0328.204.xxx (có tên lưu trong danh bạ là “Hiển Lùn”) với nội dung “22.77.81.86. mỗi con 50 điểm lổ”. Lúc 17 giờ 45 phút số điện thoại 0328.204.xxx nhắn tin “ok”. Qua quá trình đấu tranh, D đã khai nhận với cơ quan điều tra về hành vi đánh bạc dưới hình thức “mua bán số lô” với An Công H1. Ngày 12/12/2022, D đã mua của H1 04 số lô 22, 77, 81, 86, mỗi số 50 điểm. Một điểm lô H1 bán cho D với giá là 22.500 đồng, nếu trúng thưởng một điểm thì nhận được số tiền là 80.000 đồng. Tổng số tiền D phải trả cho H1 khi mua 200 điểm lô nêu trên là 4.500.000 đồng. Cả hai thống nhất sẽ căn cứ vào kết quả quay thưởng xổ số miền B cùng ngày để tính trúng thưởng, nếu các số lô của D mua trùng với hai số cuối của 27 số từ giải đặc biệt đến giải bảy thì D sẽ trúng thưởng. Đối chiếu với kết quả xổ số miền Bắc quay thưởng vào ngày 12/12/2022 thì D trúng thưởng hai số lô 77 và 86 với tổng 100 điểm, tương đương với số tiền trúng thưởng là 8.000.000 đồng. Sau khi trúng thưởng, D đến nhà H1 lấy tiền, trừ đi số tiền mua số lô là 4.500.000 đồng, D được nhận lại số tiền 3.500.000 đồng. Số tiền trúng thưởng hiện D đã sử dụng để chi tiêu cá nhân hết. Như vậy, tổng số tiền D và H1 đánh bạc với nhau là 12.500.000 đồng.
Ngày 11/04/2024, An Công H1 đã đến cơ quan cơ quan điều tra Công an huyện H xin đầu thú, khai nhận về hành vi đánh bạc dưới hình thức “mua bán số lô” với Trương Thế D đồng thời tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động nhãn
hiệu OPPO F11 màu xanh tím gắn sim số 0328204259 làm công cụ phục vụ hành vi đánh bạc.
Cơ quan điều tra đã tiến hành đấu tranh mở rộng về hành vi mua bán số lô, số đề của An Công H1, đồng thời gửi chiếc điện thoại đã thu giữ của H1 đi giám định, khôi phục dữ liệu tin nhắn SMS. Tuy nhiên, tại Bản kết luận giám định số 1760/KL-KTHS ngày 05/05/2024 của phòng K Công an tỉnh T kêt luận: không tìm thấy dữ liệu tin nhắn SMS đã xoá trong (01) một điện thoại di động gửi giám định.
Vật chứng thu giữ gồm: số tiền 8.990.000 đồng được niêm phong trong phong bì ký hiệu “Tiền quả tang 8.670.000đ”; số tiền 320.000 đồng trong hộp đựng giấy màu vàng được niêm phong trong phong bì ký hiệu “Tiền cắt phế”; 01 bộ bài tú lơ khơ; 01 chiếu nhựa; 01 hộp hình vuông bằng nhựa, màu vàng đựng giấy; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A78, màu xanh, lắp sim số 0979084086 và 0981440179 của Nguyễn Văn S1 được đựng trong phong bì niêm phong ký hiệu “M1”; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A78, màu đen, lắp sim số 0366220036 và 0845050588 của Nguyễn Thành C được đựng trong phong bì niêm phong ký hiệu “M2”; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Vivo Y21s màu xanh nhạt, lắp sim số 0977718992 của Trương Thế D được đựng trong phong bì niêm phong ký hiệu “M3”; 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 13 ProMax, màu xám, lắp sim số 0348113199 của Mai Văn T được đựng trong phong bì niêm phong ký hiệu “M4”; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu IPHONE 11, màu xanh, lắp sim số 0968432678 của Nguyễn Văn H được đựng trong phong bì niêm phong ký hiệu “M5”; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO F11, màu tím lắp sim 0328204259 được đựng trong phong bì niêm phong ký hiệu “Điện thoại của An Công H1";
Bản án hình sự sơ thẩm số 68 /2024/HSST ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa đã quyết định:
Căn cứ vào: khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trương Thế D;
Căn cứ vào: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Thành C, Nguyễn Văn S1, Mai Văn T, Nguyễn Văn H và Nguyễn Văn H2;
Căn cứ vào: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo An Công H1 và Nguyễn Văn L;
Căn cứ vào: khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự. Khoản 1, khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Tuyên bố: các bị cáo Trương Thế D, Nguyễn Thành C, Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn S1, An Công H1, Mai Văn T, Nguyễn Văn H và Nguyễn Văn H2 phạm tội “Đánh bạc”.
- Xử phạt:
- - Bị cáo Trương Thế D 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án và được trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/04/2024 đến ngày 12/04/2024.
- - Bị cáo Nguyễn Thành C 10 (mười) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 20 (hai mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- - Bị cáo Nguyễn Văn S1 10 (mười) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 20 (hai mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- - Bị cáo Nguyễn Văn L 10 (mười) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 20 (hai mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- - Bị cáo An Công H1 10 (mười) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 20 (hai mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- - Bị cáo Mai Văn T 08 (tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 (mười sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- - Bị cáo Nguyễn Văn H 08 (tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 (mười sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- - Bị cáo Nguyễn Văn H2 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo Nguyễn Thành C, Nguyễn Văn S1, Nguyễn Văn L, An Công H1, Mai Văn T, Nguyễn Văn H và Nguyễn Văn H2 cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên, thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án Hình sự.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 12/9/2024 bị cáo Trương Thế D kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và tội danh mà Toà sơ thẩm xét xử là đúng. Bị cáo cung cấp thêm một số tình tiết giảm nhẹ mới theo khoản 2 Điều 51 BLHS.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa:
Bị cáo kháng cáo hợp lệ trong thời hạn theo quy định tại các Điều 331,332,333 Bộ luật tố tụng hình sự nên được chấp nhận để xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo từ xin hưởng án treo sang nội dung xin giảm nhẹ hình phạt. xét thấy Toà án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo: bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo đang chăm sóc phụng dưỡng bà nội là bà mẹ Việt Nam anh hùng ( điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự). Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo với mức hình phạt 12 tháng tù là phù hợp.
Tại phiên Toà phúc thẩm bị cáo tiếp tục thành khẩn khai báo, ăn năn hối hận hành vi của mình, bị cáo tự nguyện nộp các khoản tiền truy thu, tiền án phí hình sự sơ thẩm theo bản án sơ thẩm đã tuyên, bị cáo có ông N1 là Liệt sỹ Nguyễn Thế Đ1 là người có công trong cuộc kháng chiến chống mỹ cứu nước được nhà nước tặng Huân chương kháng kháng chiến. Trong quá trình sinh sống tại địa phương bị cáo bị cáo đã cứu giúp người bị nạn, bị cáo tích cực đóng góp ủng hộ các quỹ từ thiện cho địa phương được chính quyền địa phương nơi cư trú xác nhận, đây là các tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 BLHS. Do vậy kháng cáo của bị cáo là có căn cứ. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo; sửa Bản án sơ thẩm về hình phạt, giảm cho bị cáo Trương Thế D từ 04 tháng đến 05 tháng tù.
Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí HSPT.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Đơn kháng cáo của bị cáo hợp lệ và trong thời hạn theo quy định tại các Điều 331,332,333 Bộ luật tố tụng hình sự nên được chấp nhận để xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
[3]. Tại Phiên tòa phúc thẩm bị cáo Trương Thế D thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Căn cứ vào lời khai của các bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, tại cơ quan
điều tra có trong hồ sơ vụ án và lêi khai của bị cáo tại phiên tòa có đủ cơ sở xác định: vào hồi 16 giờ ngày 04/04/2024, tại nhà riêng của Nguyễn Văn L ở thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, tổ công tác Công an huyện H phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Thành C, Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn S1, Mai Văn T, Trương Thế D, Nguyễn Văn H và Nguyễn Văn H2 thực hiện hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức “đánh bài Liêng” với tổng số tiền đánh bạc là 8.990.000 đồng.
Ngoài hành vi đánh bạc dưới hình thức “đánh bài L1” Trương Thế D còn thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức “mua bán số lô” với An Công H1 vào ngày 12/12/2022 với tổng số tiền đánh bạc là 12.500.000 đồng.
Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm kết bị cáo tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4]. Xét kháng cáo của bị cáo Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy :
Vào hồi 16 giờ ngày 04/04/2024,Trương Thế D cùng các bị cáo khác đánh bạc trái phép, được thua bằng tiền, dưới hình thức “đánh bài L1” với tổng số tiền là 8.990.000 đồng .Ngoài hành vi đánh bạc dưới hình thức “đánh bài L1” Trương Thế D còn thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức “mua bán số lô” với An Công H1 vào ngày 12/12/2022 với tổng số tiền đánh bạc là 12.500.000 đồng.
Hành vi đánh bạc trái phép, được thua bằng tiền, dưới hình thức “đánh bài L1” với tổng số tiền là 8.990.000 đồng của bị cáo Trương Thế D và cáo bị cáo khác và hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức “mua bán số lô” với tổng số tiền là 12.500.000 đồng của bị cáo Trương Thế D và bị cáo An Công H1 đã bị Tòa án cấp sơ thẩm xử tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là đúng quy định pháp luật.
Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Trương Thế D khẩn khai báo, bị cáo đến cơ quan công an đầu thú hành vi phạm tội của mình do đó án sơ thẩm đã căn cứ tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo xử phạt bị cáo 12 tháng tù là phù hợp tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xuất trình các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới cụ thể: Tại phiên Toà phúc thẩm bị cáo tiếp tục thành khẩn khai báo, ăn năn hối hận hành vi của mình, bị cáo nộp các khoản tiền truy thu, tiền án phí sơ thẩm theo bản án đã tuyên, bị cáo có ông N1 là Liệt sỹ Nguyễn Thế Đ1 là người có công trong cuộc kháng chiến chống mỹ cưú nước được nhà nước tặng Huân chương kháng kháng chiến. Trong quá trình sinh sống tại địa phương bị cáo bị cáo đã cứu giúp người bị nạn, bị cáo tích cực đóng góp ủng hộ các quỹ từ thiện cho địa phương được chính quyền địa phương nơi cư trú xác nhận. Trong vụ án này bị cáo phạm tội 02 lần, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm trật tự trị an, an toàn xã hội. Bị cáo có nhân thân xấu, do vậy việc cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian là cần thiết nhằm răn đe và phòng ngừa chung. Xét kháng cáo của bị cáo xin giảm
hình phạt là có căn cứ. Nên thống nhất với quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tỉnh Thanh Hóa, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt.
[5] Đối với số tiền truy thu 8.000.000 đồng và tiền án phí HSST 200.000 đồng bản án sơ thẩm tuyên đối với bị cáo. Các khoản tiền này sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã tự nguyện nộp theo biên lai thu tiền số 3232 ngày 05/9/2024 và biên lai thu tiền số 3364 ngày 11/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hà Trung.
[6].Về án phí phúc thẩm: Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Kháng cáo của các bị cáo được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[7]. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, hooij đồng xét xử không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm d khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
- Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trương Thế D về giảm hình phạt.
Sửa bản án sơ thẩm số 68/2024/HSST ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa về giảm hình phạt đối với bị cáo Trương Thế D
- Căn cứ vào: khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự. khoản 1, khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Trương Thế D phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt:
Bị cáo Trương Thế D 07 (Bảy) tháng tù, được trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/04/2024 đến ngày 12/04/2024. Tthời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Về số tiền truy thu 8.000.000 đồng và tiền án phí HSST 200.000 đồng bị cáo đã nộp đủ theo biên lai thu tiền số 3232 ngày 05/9/2024 và biên lai thu tiền số 3364 ngày 11/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hà Trung.
Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm
- Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Hoàng Thị Nguyệt |
Bản án số 215/2024/HS-PT ngày 25/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về hình sự phúc thẩm (tội đánh bạc)
- Số bản án: 215/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tội Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trương Thế D "Đánh Bạc"
